Trang chủ  | Liên hệ  | Trợ giúp  |  English     
       Chào mừng các bạn đến với website UBND tỉnh Đồng Nai - Nhiệt liệt chào mừng kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước (30/04/1975 - 30/04/2010)
 
Tên
Mật khẩu
   
 
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
TRỢ GIÚP TÌM KIẾM
 

Thông tin chi tiết | Lược đồ
 
BỘ CÔNG AN
 
Số: 10/2002/TT-BCA
 
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----- o0o -----
Ngày 26 Tháng 08 năm 2002       

No tile

THÔNG TƯ

Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 73/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001

của Chính phủ về hoạt động và tổ chức lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp

 

Ngày 05 tháng 10 năm 2001 Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2001/NĐ-CP về hoạt động tổ chức lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp. Bộ Công an hướng dẫn thực hiện như sau:

1. Tổ chức lực lượng bảo vệ:

1.1. Tổ chức lực lượng bảo vệ tại các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước nằm trong hệ thống tổ chức của các cơ quan, doanh nghiệp. Tùy theo yêu cầu cụ thể để thành lập phòng, ban, đội, tổ bảo vệ trực thuộc văn phòng hoặc phòng hành chính tổng hợp. Tại các Bộ, Ngành chủ quản cần có bộ phận kiêm nhiệm thuộc khối văn phòng để theo dõi, chỉ đạo hoạt động bảo vệ trong phạm vi thuộc Bộ, Ngành mình phụ trách.

1.2. Tổ chức lực lượng bảo vệ tại các đơn vị kinh tế thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam do Hội đồng quản trị hoặc người đứng đầu cơ quan, doanh nghiệp tùy theo yêu cầu cụ thể để quyết định cho phù hợp.

2. Quyền lợi, chế độ, chính sách của lực lượng bảo vệ:

Ngoài chế độ chính sách đối với cán bộ, nhân viên bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp nêu tại Điều 9 và Điều 12 Nghị định số 73/2001/NĐ-CP thì:

2.1. Người làm công tác bảo vệ tại cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trong khi làm nhiệm vụ, dũng cảm đấu tranh với bọn tội phạm bị thương, hy sinh được áp dụng tiêu chuẩn xác nhận là thương binh, liệt sĩ và được hưởng chính sách như thương binh, liệt sĩ quy định tại Điều 1, Điều 2, Điều 3 Quyết định số 301/CP ngày 20/9/1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ), Điều 3 Mục I Thông tư số 03/TBXH ngày 17/1/1981 và Điều 3 Mục II Công văn số 16/TBXH ngày 14/3/1981 của Bộ Thương binh xã hội (nay là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội).

Thủ tục hồ sơ đề nghị xét, ngoài những thủ tục hồ sơ theo quy định hiện hành cần phải có những giấy tờ sau:

Biên bản xảy ra sự việc (khám nghiệm hiện trường).

Biên bản xét xử hoặc ý kiến kết luận của cơ quan điều tra, tòa án về mức độ tội phạm của người phạm tội.

Nhận xét của thủ trưởng cơ quan, doanh nghiệp đối với người bị thương, hy sinh về ý thức chính trị, tinh thần trách nhiệm trong công tác.

Các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước kịp thời làm đầy đủ thủ tục, hồ sơ chuyển đến cơ quan lao động, thương binh và xã hội để sớm có quyết định đảm bảo chế độ, quyền lợi cho người bị thương và gia đình liệt sĩ.

2.2. Người làm công tác bảo vệ dưới dạng hợp đồng tuần tra, canh gác tại cơ quan, doanh nghiệp nhà nước và làm công tác bảo vệ tại các tổ chức, đơn vị kinh tế thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền lợi theo thỏa thuận với người đứng đầu các cơ quan, doanh nghiệp và các tổ chức, đơn vị kinh tế thông qua hợp đồng lao động; được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định hiện hành của pháp luật.

3. Công tác huấn luyện nghiệp vụ cho lực lượng bảo vệ.

3.1. Hàng năm, các cơ quan, doanh nghiệp xây dựng kế hoạch huấn luyện nghiệp vụ cho lực lượng bảo vệ và thông báo cho cơ quan công an chức năng biết để chủ động phối hợp thực hiện.

3.2. Nội dung huấn luyện lực lượng bảo vệ gồm:

Kiến thức cơ bản về pháp luật.

Các biện pháp nghiệp vụ bảo vệ.

Sử dụng công cụ hỗ trợ được trang bị cho lực lượng bảo vệ và những động tác tự vệ, bắt giữ tội phạm.

3.3. Quy định phân cấp huấn luyện và cấp giấy chứng nhận cho lực lượng bảo vệ.

Lực lượng bảo vệ tại các cơ quan, doanh nghiệp Trung ương do các Cục chức năng thuộc Tổng cục An ninh Bộ Công an tổ chức huấn luyện và cấp giấy chứng nhận.

Lực lượng bảo vệ tại các cơ quan, doanh nghiệp địa phương, các cơ quan, doanh nghiệp Trung ương đã phân cấp cho công an địa phương quản lý; các tổ chức, đơn vị kinh tế thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam do Công an tỉnh, thành phố nơi cơ quan, doanh nghiệp đóng tổ chức huấn luyện và cấp giấy chứng nhận.

3.4. Trách nhiệm phối hợp tổ chức huấn luyện lực lượng bảo vệ:

Các Cục chức năng thuộc Tổng cục An ninh, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm đảm bảo nội dung, tài liệu huấn luyện, bố trí giảng viên và cấp giấy chứng nhận đã học nghiệp vụ cho lực lượng bảo vệ.

Các cơ quan, doanh nghiệp có nhu cầu huấn luyện lực lượng bảo vệ chịu trách nhiệm kinh phí huấn luyện, bố trí địa điểm, tổ chức và quản lý lớp học.

4. Trang phục và trang bị cho lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp:

4.1. Lực lượng bảo vệ được cơ quan, doanh nghiệp cấp kinh phí may trang phục và mua các trang bị cần thiết khác phục vụ cho công tác bảo vệ gồm: quần áo (xuân hè, thu đông), mũ ke pi, giầy theo quy định sau:

Tráng phục xuân hè:

Áo kiểu veston ngắn tay, cổ bẻ, cúc nhựa mầu đen (dùng cả cho áo thu đông). Thân trước có túi mang ốp ngoài.

Quần kiểu âu phục.

Giầy da mầu đen ngắn cổ, buộc dây.

Trang phục thu đông:

Áo ngoài kiểu veston dựng lót trong, dài tay, cổ bẻ. Thân trước có túi mang ốp ngoài.

Bên trong là áo sơ mi mầu xanh hòa bình dài tay cổ có chân.

Cravát mầu tím than.

Quần may kiểu âu phục.

Giầy da mầu đen ngắn cổ, buộc dây.

Mầu sắc, chất liệu quần áo xuân hè, quần áo ngoài thu đông, mũ do thủ trưởng các cơ quan, doanh nghiệp căn cứ tình hình cụ thể của cơ quan, doanh nghiệp mình để quyết định cho phù tợp, nhưng không được trùng lẫn với mầu sắc quần áo, mũ của các lực lượng đã được Chính phủ quy định (Công an, Quân đội, Hải quan). Cơ quan, doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo mầu trang phục bảo vệ của cơ quan, doanh nghiệp mình cho cơ quan công an chức năng và cán bộ, công nhân viên chức trong cơ quan, doanh nghiệp biết. Ngoài ra để đảm bảo điều kiện làm việc, nếu cần thiết lực lượng bảo vệ được cơ quan, doanh nghiệp trang bị mũ bảo hiểm, áo mưa, ủng, đèn pin, băng đỏ...

Định kỳ cấp phát trang phục và trang bị khác cho lực lượng bảo vệ do thủ trưởng các cơ quan, doanh nghiệp căn cứ hoạt động cụ thể của lực lượng bảo vệ tại đơn vị mình để quyết định.

4.2. Những cơ quan, doanh nghiệp nhà nước có nhu cầu cần thiết trang bị vũ khí quân dụng và công cụ hỗ trợ cho công tác bảo vệ thực hiện theo quy định tại điểm g Mục I Điều 8 Chương II và điểm e Mục 1 Điều 38 Chương V Quy chế Quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ban hành theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ.

4.3. Giấy chứng nhận đã học nghiệp vụ bảo vệ, sao hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, biểu hiện của lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp quy định như sau:

Giấy chứng nhận đã học nghiệp vụ bảo vệ: Giấy chứng nhận đã học nghiệp vụ bảo vệ được làm bằng giấy cứng khổ 11cm x 8cm. Nền mầu vàng nhạt, đường viền và chữ GIẤY CHỨNG NHẬN mầu đỏ, các chữ còn hai mầu đen.

Mẫu cấp hiệu nhân viên bảo vệ có thời gian làm việc từ 5 năm trở lên.

Sao hiệu bảo vệ: bằng kim loại hình tròn, đường kính 36 mm ở giữa có ngôi sao 5 cánh mầu vàng nổi trên nền đỏ, liền với nền đỏ là nền xanh thẫm có hai bông lúa nổi mầu vàng bao quanh phía dưới ngôi sao có nửa hình bánh xe mầu vàng giữa nửa bánh xe có chữ "Bảo vệ". Vành ngoài sao liệu bảo vệ mầu vàng. Sao hiệu bảo vệ khi gắn trên mũ kepi có cành tùng kép bằng kim loại màu trắng bao quanh liền thành một khối cao 54 mm, rộng 64 mm:

Cấp hiệu bảo vệ: cấp hiệu bảo vệ mầu tím than, hai cạnh đầu nhỏ và hai cạnh dọc cấp hiệu có viền lé mầu vàng. Cúc gắn ở đầu nhỏ có hình nổi ngôi sao 5 cánh xung quanh có đường viền tròn.

Đối với lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp nhà nước phía cuối nền cấp hiệu có vạch ngang, cấp hiệu phụ trách bảo vệ có ba vạch ngang bằng sợi nỉ mầu vàng rộng 10 mm, vạch nọ cách vạch kia 7 mm, cấp hiệu nhân viên bảo vệ có thời gian làm việc từ 5 năm trở lên có hai vạch ngang bằng sợi nỉ mầu vàng rộng 10 mm, vạch nọ cách vạch kia 7 mm. Cấp hiệu nhân viên bảo vệ có thời gian làm việc dưới 5 năm có một vạch ngang bằng sợi nỉ mầu vàng rộng 10 mm:

Đối với lực lượng bảo vệ tại các đơn vị kinh tế thanh flập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phía cuối nền cấp hiệu có vạch hình chữ < cấp hiệu phụ trách bảo vệ có ba vạch < bằng nỉ màu vàng rộng 10mm, vạch nọ cách vạch kia 7 mm. Cấp hiệu nhân viên bảo vệ có thời gian làm việc từ 5 năm trở lên có hai vạch < bằng nỉ màu vàng rộng 10mm, vạch nọ cách vạch kia 7 mm. Cấp hiệu nhân viên bảo vệ có thời gian làm việc dưới 5 năm có một vạch < bằng sợi màu vàng rộng 10mm.

Phù hiệu bảo vệ:

Phù hiệu bảo vệ hình bình hành 55 mm x 35 mm nền mầu tím than, ở giữa có gắn sao hiệu bảo vệ đường kính 18 mm.

Biển hiệu bảo vệ:

Biển hiệu bảo vệ do các cơ quan, doanh nghiệp thực hiện theo mẫu quy định thống nhất sau:

Biển hiệu bảo vệ được làm bằng giấy cứng, khổ 9 cm x 5,5 cm nền mầu vàng nhạt, đường viền, gạch ngang và chữ BẢO VỆ mầu đỏ, các chữ khác mầu đen.

Phần trên gạch ngang ghi biểu hiện ghi tên cơ quan chủ quản bằng chữ in có chân, dòng bên dưới ghi tên công ty, doanh nghiệp bằng chữ thường đậm.

Phần dưới gạch ngang trong biển hiệu về phía bên phải là chữ BẢO VỆ bằng chữ in có chân, dòng bên dưới ghi họ tên người được cấp biển hiệu bằng chữ in có chân (nhỏ hơn chữ Bảo vệ), dòng cuối cùng là Số hiệu: ghi số của người được cấp biển hiệu. Phía trái dán ảnh (3 x 4) của người được cấp biển hiệu có đóng đấu giáp lai của cơ quan, doanh nghiệp.

Biển hiệu Bảo vệ được nẹp trong bao Platis mầu trong suốt có ghim phía sau để đeo phía trên túi áo ngực trái.

4.4. Cán bộ, nhân viên bảo vệ tại các cơ quan, doanh nghiệp nếu vì lý do gì thôi không làm công tác bảo vệ nữa thì cơ quan, doanh nghiệp có trách nhiệm thu hồi sao hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, biển hiệu của cán bộ, nhân viên bảo vệ đó.

6. Tổ chức thực hiện:

Tổng cục An ninh có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Nghị định số 73/2001/NĐ-CP tại các cơ quan, doanh nghiệp Trung ương; chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan biên soạn tài liệu huấn luyện nghiệp vụ bảo vệ, in giấy chứng nhận đã học nghiệp vụ bảo vệ cho lực lượng bảo vệ.

Tổng cục Hậu cần Công an nhân dân chủ trì phối hợp với Tổng cục An ninh sản xuất sao hiệu, cấp hiệu, phù hiệu cho lực lượng bảo vệ theo đề nghị của các cơ quan, doanh nghiệp ở Trung ương và địa phương.

Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc thực hiện Nghị định số 73/2001/NĐ-CP tại các cơ quan, doanh nghiệp thuộc địa phương mình quản lý.

Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Các quy định trước đây của Bộ Công an về tổ chức và hoạt động của lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp trái với thông tư này đều bãi bỏ. Trong quá trình thực hiện có điều gì vướng mắc các đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Công an để nghiên cứu giải quyết./.

 

BỘ CÔNG AN  
THỨ TRƯỞNG  
(Đã ký)
 
 
 
 
 
Nguyễn Khánh Toàn