|
|
||||
|
||||
|
PHÁP LỆNH XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH Để đấu tranh phòng
ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước; Căn cứ vào Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung
theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X,
kỳ họp thứ 10; Căn cứ vào Nghị
quyết của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10 về Chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh năm 2002; Pháp lệnh này quy
định về xử lý vi phạm hành chính. Điều 1. Xử lý vi
phạm hành chính 1. Xử lý vi phạm hành
chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính
khác. 2. Xử phạt vi phạm
hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là
cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật
về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật
phải bị xử phạt hành chính. 3. Các biện pháp xử lý
hành chính khác được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an
ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được
quy định tại các điều 23, 24, 25, 26 và 27 của Pháp lệnh này. Điều 2. Thẩm quyền
quy định hành vi vi phạm hành chính và chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành
chính khác Chính phủ quy định
hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối
với từng hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước; quy
định chế độ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường
giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành
chính. Điều 3. Nguyên tắc
xử lý vi phạm hành chính 1. Mọi vi phạm hành
chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý vi phạm
hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do
vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật. 2. Cá nhân, tổ chức
chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm hành chính do pháp luật quy định. Cá nhân chỉ bị áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính khác nếu thuộc một trong các đối tượng được quy
định tại các điều 23, 24, 25, 26 và 27 của Pháp lệnh này. 3. Việc xử lý vi phạm
hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp
luật. 4. Một hành vi vi phạm
hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần. Nhiều người cùng thực
hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt. Một người thực hiện
nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm. 5. Việc xử lý vi phạm
hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm
và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử lý
thích hợp. 6. Không xử lý vi phạm
hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng,
sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc
các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình. Điều 4. Trách nhiệm
đấu tranh, phòng ngừa và chống vi phạm hành chính 1. Cơ quan, tổ chức và
mọi công dân phải nghiêm chỉnh tuân thủ những quy định của pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính. Các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục thành viên thuộc
cơ quan, tổ chức mình về ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, các quy tắc của
cuộc sống xã hội, kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân, điều kiện gây ra
vi phạm hành chính trong cơ quan, tổ chức mình. 2. Khi phát hiện có vi
phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm xử
lý vi phạm đó theo đúng quy định của pháp luật. 3. Công dân có quyền
và nghĩa vụ phát hiện, tố cáo mọi hành vi vi phạm hành chính và hành vi vi phạm
pháp luật của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. 4. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên của Mặt trận, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thi hành pháp luật trong xử lý
vi phạm hành chính. Điều 5. Giám sát,
kiểm tra trong xử lý vi phạm hành chính 1. Hội đồng dân tộc,
các Ủy ban của Quốc hội, Hội đồng
nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thi hành pháp
luật trong xử lý vi phạm hành chính. 2. Thủ trưởng cơ quan
nhà nước có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra việc xử lý vi phạm hành chính của
người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình,
kịp thời xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi
phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Điều 6. Đối tượng
bị xử lý vi phạm hành chính 1. Các đối tượng bị xử
phạt vi phạm hành chính bao gồm: a) Người từ đủ 14 tuổi
đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ
đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây
ra. Quân nhân tại ngũ,
quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện và những người thuộc lực lượng
Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với các công dân khác;
trong trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng một số giấy phép
hoạt động vì mục đích quốc phòng, an ninh thì người xử phạt không trực tiếp xử
lý mà đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội, Công an có thẩm quyền xử lý theo Điều
lệnh kỷ luật; b) Tổ chức bị xử phạt
hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. Sau khi chấp hành quyết
định xử phạt, tổ chức bị xử phạt xác định cá nhân có lỗi gây ra vi phạm hành
chính để xác định trách nhiệm pháp lý của người đó theo quy định của pháp luật; c) Cá nhân, tổ chức nước
ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì bị xử phạt hành chính
theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác. 2. Đối tượng bị áp
dụng các biện pháp xử lý hành chính khác là những người được quy định tại các
điều 23, 24, 25, 26 và 27 của Pháp lệnh này. Các biện pháp xử lý
hành chính khác quy định tại Pháp lệnh này không áp dụng đối với người nước
ngoài. Điều 7. Xử lý người
chưa thành niên vi phạm hành chính 1. Người từ đủ 14 tuổi
đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo. Người từ đủ 16 tuổi
đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính thì có thể bị áp dụng hình thức xử phạt vi
phạm hành chính quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh này. Khi phạt tiền đối với
họ thì mức tiền phạt không được quá một phần hai mức phạt đối với người thành
niên; trong trường hợp họ không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ
phải nộp thay. 2. Người chưa thành
niên có hành vi vi phạm pháp luật được quy định tại khoản 2 Điều 23, khoản 2
Điều 24, điểm b khoản 2 Điều 26 của Pháp lệnh này thì bị xử lý theo quy định
tại các điều khoản đó. 3. Người chưa thành
niên vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật. 1. Những tình tiết sau
đây là tình tiết giảm nhẹ: a) Người vi phạm hành
chính đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục
hậu quả, bồi thường thiệt hại; b) Người vi phạm hành
chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; c) Vi phạm trong tình
trạng bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây
ra; d) Vi phạm do bị ép
buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần; đ) Người vi phạm là
phụ nữ có thai, người già yếu, người có bệnh hoặc tàn tật làm hạn chế khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; e) Vi phạm vì hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra; g) Vi phạm do
trình độ lạc hậu. 2. Ngoài những tình
tiết quy định tại khoản 1 Điều này, Chính phủ có thể quy định những tình tiết
khác là tình tiết giảm nhẹ trong các văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành
chính. Chỉ những tình tiết
sau đây mới là tình tiết tăng nặng: 1. Vi phạm có tổ chức; 2. Vi phạm nhiều lần
trong cùng lĩnh vực hoặc tái phạm trong cùng lĩnh vực; 3. Xúi giục, lôi kéo
người chưa thành niên vi phạm, ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất,
tinh thần vi phạm; 4. Vi phạm trong tình
trạng say do dùng rượu, bia hoặc các chất kích thích khác; 5. Lợi dụng chức vụ,
quyền hạn để vi phạm; 6. Lợi dụng hoàn cảnh
chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội
để vi phạm; 7. Vi phạm trong thời
gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp hành quyết định
xử lý vi phạm hành chính; 8. Tiếp tục thực hiện
hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành
vi đó; 9. Sau khi vi phạm đã
có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm hành chính. Điều 10. Thời hiệu
xử lý vi phạm hành chính 1. Thời hiệu xử phạt
vi phạm hành chính là một năm, kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện;
đối với vi phạm hành chính trong các lĩnh vực tài chính, chứng khoán, sở hữu
trí tuệ, xây dựng, môi trường, an toàn và kiểm soát bức xạ, nhà ở, đất đai, đê
điều, xuất bản, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh hoặc vi phạm hành
chính là hành vi buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả thì thời hiệu là hai
năm; nếu quá các thời hạn nói trên thì không xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các
biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 3
Điều 12 của Pháp lệnh này. Người có thẩm quyền xử
phạt nếu có lỗi trong việc để quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì bị
xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh này. 2. Đối với cá nhân đã
bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng
hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà
hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính thì bị xử phạt hành chính; trong
thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án,
người đã ra quyết định phải gửi quyết định cho người có thẩm quyền xử phạt;
trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể từ
ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi
phạm. 3. Trong thời hạn được
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà cá nhân, tổ chức lại thực hiện vi
phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm hoặc cố tình trốn
tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời
điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn
tránh, cản trở việc xử phạt. 4. Thời hiệu áp dụng
biện pháp xử lý hành chính khác được quy định tại các điều 23, 24, 25 và 26 của
Pháp lệnh này. Điều 11.Thời hạn được
coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính 1. Cá nhân, tổ chức bị
xử phạt vi phạm hành chính, nếu qua một năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết
định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không
tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. 2. Cá nhân bị áp dụng
biện pháp xử lý hành chính khác, nếu qua hai năm, kể từ ngày chấp hành xong
quyết định xử lý hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử lý mà không
thực hiện hành vi được quy định tại các điều 23, 24, 25, 26 và 27 của Pháp lệnh
này thì được coi như chưa bị áp dụng biện pháp đó. CHƯƠNG II Điều 12. Các hình
thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả 1. Đối với mỗi vi phạm
hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt
chính sau đây: a) Cảnh cáo; b) Phạt tiền. 2. Tùy theo tính chất,
mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một
hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: a) Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề; b) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. 3. Ngoài các hình thức
xử phạt được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, cá nhân, tổ chức vi phạm
hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau
đây: a) Buộc khôi phục lại
tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo
dỡ công trình xây dựng trái phép; b) Buộc thực hiện các
biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm
hành chính gây ra; c) Buộc đưa ra khỏi
lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện; d) Buộc tiêu hủy vật
phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc
hại; đ) Các biện pháp khác
do Chính phủ quy định. 4. Người nước ngoài vi
phạm hành chính còn có thể bị xử phạt trục xuất. Trục xuất được áp dụng là hình
thức xử phạt chính hoặc xử phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể. Cảnh cáo được áp dụng
đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ
hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản. 1. Mức phạt tiền trong
xử phạt vi phạm hành chính là từ 5.000 đồng đến 500.000.000 đồng. 2. Căn cứ vào tính
chất, mức độ vi phạm, mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước
được quy định như sau: a) Phạt tiền tối đa
đến 20.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính trong các
lĩnh vực: trật tự, an toàn xã hội; quản lý và bảo vệ các công trình giao thông;
quản lý và bảo vệ công trình thủy lợi; lao động; đo lường và chất lượng hàng
hóa; kế toán; thống kê; tư pháp; bảo hiểm xã hội; b) Phạt tiền tối đa
đến 30.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính trong các
lĩnh vực: trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường thủy; văn hóa - thông
tin; du lịch; phòng, chống tệ nạn xã hội; đất đai; đê điều và phòng chống lụt,
bão; y tế; giá; điện lực; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; bảo vệ nguồn lợi thủy
sản; thú y; quản lý, bảo vệ rừng, lâm sản; quốc phòng; an ninh; c) Phạt tiền tối đa
đến 70.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính trong các
lĩnh vực: thương mại; hải quan; bảo vệ môi trường; an toàn và kiểm soát bức xạ;
trật tự, an toàn giao thông đường sắt; xây dựng; bưu chính, viễn thông và tần
số vô tuyến điện; chứng khoán; ngân hàng; chuyển giao công nghệ; d) Phạt tiền tối đa
đến 100.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính trong các
lĩnh vực: khoáng sản; sở hữu trí tuệ; hàng hải; hàng không dân dụng; thuế (trừ
trường hợp các luật về thuế có quy định khác); đ) Phạt tiền tối đa
đến 500.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi xâm phạm vùng lãnh hải, vùng
tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm nghiên cứu, thăm dò, khai thác nguồn lợi hải sản,
dầu khí, các tài nguyên thiên nhiên khác. 3. Đối với hành vi vi
phạm hành chính trong những lĩnh vực quản lý nhà nước chưa được quy định tại
khoản 2 Điều này thì Chính phủ quy định mức phạt tiền, nhưng tối đa không vượt
quá 100.000.000 đồng. Trục xuất là buộc người
nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ quy định thủ
tục trục xuất. Điều 16. Tước quyền
sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc không thời hạn được áp dụng đối
với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng quy định sử dụng giấy phép, chứng chỉ
hành nghề. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành
nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép,
chứng chỉ hành nghề. Điều 17. Tịch thu
tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính 1. Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính là việc sung vào quỹ nhà nước
vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính.
2. Không tịch thu tang
vật, phương tiện bị cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính chiếm đoạt, sử dụng
trái phép mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý, người sử dụng hợp pháp. Điều 18. Buộc khôi
phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc
buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép Cá nhân, tổ chức phải
khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính của mình
gây ra hoặc phải tháo dỡ công trình xây dựng trái phép; nếu cá nhân, tổ chức vi
phạm không tự nguyện thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Cá nhân,
tổ chức vi phạm phải chịu mọi chi phí cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế.
Điều 19. Buộc khắc
phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây
ra Cá nhân, tổ chức vi
phạm hành chính phải đình chỉ ngay các hành vi vi phạm gây ô nhiễm môi trường,
lây lan dịch bệnh và phải thực hiện các biện pháp để khắc phục; nếu cá nhân, tổ
chức vi phạm không tự nguyện thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế.
Cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu mọi chi phí cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng
chế. Điều 20. Buộc đưa
ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện Hàng hóa, vật phẩm, phương
tiện được đưa vào lãnh thổ Việt Nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật
hoặc hàng tạm nhập tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp
luật thì bị buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất. Cá nhân, tổ
chức vi phạm phải chịu mọi chi phí để thực hiện biện pháp này. Điều 21. Buộc tiêu
thủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa
phẩm độc hại Vật phẩm gây hại cho
sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc hại là tang vật vi
phạm hành chính phải bị tiêu hủy. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện
thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Cá nhân, tổ chức vi phạm phải
chịu mọi chi phí cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế. CHƯƠNG III Điều 22. Các biện
pháp xử lý hành chính khác Các biện pháp xử lý
hành chính khác bao gồm: 1. Giáo dục tại xã, phường,
thị trấn; 2. Đưa vào trường giáo
dưỡng; 3. Đưa vào cơ sở giáo
dục; 4. Đưa vào cơ sở chữa
bệnh; 5. Quản chế hành
chính. Điều 23. Giáo dục
tại xã, phường, thị trấn 1. Giáo dục tại xã, phường,
thị trấn do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) quyết định đối với những người được quy định
tại khoản 2 Điều này để giáo dục, quản lý họ tại nơi cư trú. 2. Đối tượng bị áp
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn bao gồm: a) Người từ đủ 12 tuổi
đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do
cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự; b) Người từ đủ 12 tuổi
trở lên nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối
trật tự công cộng; c) Người nghiện ma túy
từ đủ 18 tuổi trở lên, người bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 14 tuổi
trở lên có nơi cư trú nhất định; d) Người trên 55 tuổi
đối với nữ và trên 60 tuổi đối với nam thực hiện hành vi vi phạm pháp luật quy
định tại khoản 2 Điều 25 của Pháp lệnh này. 3. Thời hiệu áp dụng
biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là sáu tháng, kể từ khi thực hiện
hành vi vi phạm quy định tại điểm a hoặc kể từ khi thực hiện lần cuối hành vi
vi phạm quy định tại các điểm b và c khoản 2 Điều này; thời hiệu nói trên cũng
được áp dụng đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này, kể từ khi
thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 25 của Pháp lệnh
này. 4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách
nhiệm tổ chức thực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; phối hợp
với cơ quan, tổ chức hữu quan tại cơ sở và gia đình quản lý, giáo dục các đối tượng
này. 5. Bộ Công an thống
nhất chỉ đạo việc thực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Điều 24. Đưa vào trường
giáo dưỡng 1. Đưa vào trường giáo
dưỡng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) quyết định đối với người
chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại khoản 2 Điều này để
học văn hóa, giáo dục hướng nghiệp, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản
lý, giáo dục của trường. Thời hạn áp dụng biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng là từ sáu tháng đến hai năm. 2. Đối tượng bị áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng bao gồm: a) Người từ đủ 12 tuổi
đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm
trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự; b) Người từ đủ 12 tuổi
đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng
hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự mà trước đó đã bị áp
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp
này nhưng không có nơi cư trú nhất định; c) Người từ đủ 14 tuổi
đến dưới 18 tuổi nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh
bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi
cư trú nhất định. 3. Thời hiệu áp dụng
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được quy định như sau: a) Một năm kể từ khi
thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này; b) Sáu tháng kể từ khi
thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b hoặc kể từ khi thực hiện lần cuối
một trong những hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 2 Điều này. 4. Bộ Công an thành
lập các trường giáo dưỡng theo khu vực; trong trường hợp địa phương có nhu cầu
thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) đề nghị Bộ Công an thành
lập Trường giáo dưỡng tại địa phương mình. Bộ Công an thống nhất
quản lý các trường giáo dưỡng, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em
Việt Nam và các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc tổ chức, quản lý các trường
giáo dưỡng phù hợp với lứa tuổi từ đủ 12 tuổi đến dưới 15 tuổi và từ đủ 15 tuổi
đến dưới 18 tuổi. Điều 25. Đưa vào cơ
sở giáo dục 1. Đưa vào cơ sở giáo
dục do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết
định áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại khoản 2
Điều này để lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ
sở giáo dục. Thời hạn áp dụng biện
pháp đưa vào cơ sở giáo dục là từ sáu tháng đến hai năm. 2. Đối tượng bị áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục là người thực hiện hành vi xâm phạm tài
sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài, tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm của công dân, của người nước ngoài, vi phạm trật tự, an toàn xã hội có
tính chất thường xuyên nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị
áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện
pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định. 3. Thời hiệu áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục là một năm, kể từ khi thực hiện lần cuối một
trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này. 4. Bộ Công an thành
lập các cơ sở giáo dục theo khu vực; trong trường hợp địa phương có nhu cầu thì
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề nghị
Bộ Công an thành lập cơ sở giáo dục tại địa phương mình. Bộ Công an thống nhất
quản lý các cơ sở giáo dục, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội trong việc tổ chức, quản lý các cơ sở giáo dục. Điều 26. Đưa vào cơ
sở chữa bệnh 1. Đưa vào cơ sở chữa
bệnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết
định đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại khoản 2 Điều này
để lao động, học văn hóa, học nghề và chữa bệnh dưới sự quản lý của cơ sở chữa bệnh.
Cơ sở chữa bệnh phải
tổ chức khu vực dành riêng cho người dưới 18 tuổi. Thời hạn áp dụng biện
pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người nghiện ma túy là từ một năm đến hai
năm, đối với người bán dâm là từ ba tháng đến mười tám tháng. 2. Đối tượng bị áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bao gồm: a) Người nghiện ma túy
từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định; b) Người bán dâm có
tính chất thường xuyên từ đủ 16 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi
cư trú nhất định. Không đưa vào cơ sở
chữa bệnh người bán dâm dưới 16 tuổi hoặc trên 55 tuổi. 3. Thời hiệu áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh là sáu tháng kể từ khi thực hiện lần cuối
hành vi vi phạm quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều này. Nếu sau ba tháng kể từ
khi thực hiện lần cuối hành vi vi phạm mà người vi phạm có tiến bộ rõ rệt trong
việc chấp hành pháp luật thì không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh. 4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành
lập và quản lý cơ sở chữa bệnh theo địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
5. Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em
Việt Nam trong việc xây dựng chương trình học tập, lao động, chữa bệnh phù hợp
với từng loại đối tượng trong các cơ sở chữa bệnh. Điều 27. Quản chế
hành chính 1. Quản chế hành chính
do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết
định đối với người có hành vi vi phạm pháp luật phương hại đến an ninh quốc gia
nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Người bị quản chế hành chính
phải cư trú, làm ăn, sinh sống tại một địa phương nhất định và chịu sự quản lý,
giáo dục của chính quyền, nhân dân địa phương. Thời hạn quản chế hành
chính là từ sáu tháng đến hai năm. 2. Không áp dụng quản
chế hành chính đối với người dưới 18 tuổi. 3. Bộ Công an thống
nhất chỉ đạo việc quản chế hành chính. CHƯƠNG IV Điều 28. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền 1. Phạt cảnh cáo; 2. Phạt tiền đến
500.000 đồng; 3. Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 500.000 đồng; 4. Buộc khôi phục lại
tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra; 5. Buộc thực hiện biện
pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành
chính gây ra; 6. Buộc tiêu hủy vật
phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc
hại; 7. Quyết định áp dụng
biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Điều 29. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có
quyền: 1. Phạt cảnh cáo; 2. Phạt tiền đến
20.000.000 đồng; 3. Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; 4. Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; 5. Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này; 6. Quyết định áp dụng
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; 7. Quyết định áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh. Điều 30. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có
quyền: 1. Phạt cảnh cáo; 2. Phạt tiền đến mức
tối đa đối với các lĩnh vực quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 14 của Pháp
lệnh này. 3. Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; 4. Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; 5. Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này; 6. Quyết định áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; 7. Quyết định áp dụng
biện pháp quản chế hành chính. Điều 31. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của Công an nhân dân 1. Chiến sĩ Công an
nhân dân đang thi hành công vụ có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
100.000 đồng. 2. Trạm trưởng, Đội trưởng
của người quy định tại khoản 1 Điều này có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
200.000 đồng. 3. Trưởng Công an cấp
xã được áp dụng các hình thức xử lý vi phạm hành chính quy định tại Điều 28 của
Pháp lệnh này, trừ quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị
trấn. 4. Trưởng Công an cấp
huyện có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
10.000.000 đồng; c) Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. 5. Trưởng phòng Cảnh
sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng
phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Trưởng phòng Cảnh sát kinh tế, Trưởng
phòng Cảnh sát hình sự, Trưởng phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm ma túy, Trưởng
phòng Quản lý xuất cảnh, nhập cảnh, Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động từ cấp
đại đội trở lên hoạt động có tính chất độc lập, Trạm trưởng Trạm Công an cửa
khẩu, khu chế xuất có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
10.000.000 đồng; c) Tước quyền
sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. 6. Giám đốc Công an
cấp tỉnh có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
20.000.000 đồng; c) Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. 7. Cục trưởng Cục Cảnh
sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông,
Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Cục trưởng Cục Cảnh sát kinh tế,
Cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm
ma túy, Cục trưởng Cục Quản lý xuất cảnh, nhập cảnh có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến mức
tối đa đối với các lĩnh vực thuộc quyền quản lý của mình quy định tại các điểm
a, b, c và d khoản 2 và khoản 3 Điều 14 của Pháp lệnh này; c) Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và dkhoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. 8. Bộ trưởng Bộ Công
an quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất. Điều 32. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của Bộ đội biên phòng 1. Chiến sĩ Bộ đội
biên phòng đang thi hành công vụ có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
100.000 đồng. 2. Đội trưởng của người
quy định tại khoản 1 Điều này có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
200.000 đồng. 3. Trưởng Đồn biên
phòng, Chỉ huy trưởng Hải đội biên phòng, Chỉ huy trưởng Tiểu khu biên phòng có
quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
10.000.000 đồng; c) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; d) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. 4. Chỉ huy trưởng Bộ
đội biên phòng cấp tỉnh, Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng trực thuộc Bộ Tư
lệnh Bộ đội biên phòng có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến mức
tối đa đối với các lĩnh vực thuộc quyền quản lý của mình quy định tại các điểm
a, b, c và d khoản 2 và khoản 3 Điều 14 của Pháp lệnh này; c) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; d) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. Điều 33. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của Cảnh sát biển 1. Cảnh sát viên Đội
nghiệp vụ Cảnh sát biển đang thi hành công vụ có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
200.000 đồng. 2. Tổ trưởng Tổ nghiệp
vụ Cảnh sát biển có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
500.000 đồng. 3. Đội trưởng Đội
nghiệp vụ Cảnh sát biển có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
2.000.000 đồng. 4. Hải đội trưởng Hải
đội Cảnh sát biển có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
5.000.000 đồng; c) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. 5. Hải đoàn trưởng Hải
đoàn Cảnh sát biển có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
10.000.000 đồng; c) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; d) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. 6. Chỉ huy trưởng Vùng
Cảnh sát biển có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
20.000.000 đồng; c) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; d) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và dkhoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. 7. Cục trưởng Cục Cảnh
sát biển có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến mức
tối đa đối với các lĩnh vực thuộc quyền quản lý củamình quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều 14 của Pháp lệnh này; c) Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. Điều 34. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của Hải quan 1. Đội trưởng Đội
nghiệp vụ thuộc Chi cục Hải quan có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
500.000 đồng. 2. Chi cục trưởng Hải
quan, Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cục Hải quan), Đội trưởng Đội kiểm
soát chống buôn lậu và Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển thuộc Cục
điều tra chống buôn lậu Tổng cục Hải quan có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
10.000.000 đồng; c) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 20.000.000 đồng. 3. Cục trưởng Cục Hải
quan có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
20.000.000 đồng; c) Tước quyền sử dụng
giấy phép thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm c và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. 4. Cục trưởng Cục điều
tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến mức
tối đa đối với lĩnh vực hải quan, thuế quy định tại các điểm c và d khoản 2
Điều 14 của Pháp lệnh này; c) Tước quyền sử dụng
giấy phép thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm c và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. Điều 35. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của Kiểm lâm 1. Kiểm lâm viên đang
thi hành công vụ có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
100.000 đồng. 2. Trạm trưởng Trạm
Kiểm lâm có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
2.000.000 đồng; c) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 10.000.000 đồng. 3. Hạt trưởng Hạt Kiểm
lâm, Hạt trưởng Hạt phúc kiểm lâm sản, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động có
quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
10.000.000 đồng; c) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 20.000.000 đồng; d) Buộc khôi phục lại
tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra. 4. Chi cục trưởng Chi
cục Kiểm lâm có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
20.000.000 đồng; c) Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. 5. Cục trưởng Cục Kiểm
lâm có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến mức
tối đa đối với lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, lâm sản quy định tại điểm b khoản
2 Điều 14 của Pháp lệnh này; c) Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. Điều 36. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của cơ quan Thuế Trừ trường hợp luật có
quy định khác về mức phạt, những người sau đây có quyền: 1. Nhân viên thuế vụ
đang thi hành công vụ có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
100.000 đồng. 2. Trạm trưởng Trạm
Thuế, Đội trưởng Đội Thuế có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
2.000.000 đồng. 3. Chi cục trưởng Chi
cục Thuế có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
10.000.000 đồng; c) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. 4. Cục trưởng Cục Thuế
có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến mức
tối đa đối với lĩnh vực thuế quy định tại điểm d khoản 2 Điều 14 của Pháp lệnh
này; c) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Điều 37. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của Quản lý thị trường 1. Kiểm soát viên thị
trường đang thi hành công vụ có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
200.000 đồng. 2. Đội trưởng Đội Quản
lý thị trường có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
5.000.000 đồng; c) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 30.000.000 đồng; d) Buộc tiêu hủy vật
phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc
hại. 3. Chi Cục trưởng Chi
cục Quản lý thị trường có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
20.000.000 đồng; c) Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Buộc tiêu hủy vật
phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc
hại. 4. Cục trưởng Cục Quản
lý thị trường có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến mức
tối đa đối với lĩnh vực thương mại quy định tại điểm c khoản 2 Điều 14 của Pháp
lệnh này; c) Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Buộc tiêu hủy vật
phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc
hại. Điều 38. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của Thanh tra chuyên ngành 1. Thanh tra viên
chuyên ngành đang thi hành công vụ có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
200.000 đồng; c) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng; d) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. 2. Chánh thanh tra
chuyên ngành cấp sở có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
20.000.000 đồng; c) Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật, phương
tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. 3. Chánh thanh tra
chuyên ngành bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến mức
tối đa đối với lĩnh vực thuộc quyền quản lý của mình quy định tại các điểm a,
b, c và d khoản 2 và khoản 3 Điều 14 của Pháp lệnh này; c) Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; d) Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. Điều 39. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của Giám đốc Cảng vụ hàng hải, Giám đốc Cảng vụ thủy
nội địa, Giám đốc Cảng vụ hàng không Giám đốc Cảng vụ hàng hải, Giám đốc Cảng
vụ thủy nội địa, Giám đốc Cảng vụ hàng không có quyền: 1. Phạt cảnh cáo; 2. Phạt tiền đến
10.000.000 đồng; 3. Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; 4. Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; 5. Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại các điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này. Điều 40. Thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính của Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự 1. Thẩm phán chủ tọa
phiên tòa có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
1.000.000 đồng. 2. Chấp hành viên thi
hành án dân sự đang thi hành công vụ có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
200.000 đồng. 3. Đội trưởng Đội thi
hành án dân sự có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
500.000 đồng. 4. Trưởng phòng thi
hành án dân sự cấp tỉnh, Trưởng phòng thi hành án Quân khu và cấp tương đương
có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến
1.000.000 đồng. Điều 41. Ủy quyền xử lý vi phạm hành
chính Trong trường hợp những
người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính quy định tại các điều 28, 29 và
30, các khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 31, các khoản 2, 3 và 4 Điều 32, các
khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 33, Điều 34, các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 35, các
khoản 2, 3 và 4 Điều 36, các khoản 2, 3 và 4 Điều 37, các khoản 2 và 3 Điều 38,
Điều 39, các khoản 3 và 4 Điều 40 của Pháp lệnh này vắng mặt thì cấp phó được
ủy quyền có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và phải chịu trách nhiệm về
quyết định của mình. Điều 42. Nguyên tắc
xác định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính 1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.
Người có thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính quy định tại các điều từ Điều 31 đến Điều 40 của Pháp
lệnh này có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực, ngành mình
quản lý. Trong trường hợp vi
phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì việc xử phạt do
người thụ lý đầu tiên thực hiện. 2. Thẩm quyền xử phạt
của những người được quy định tại các điều từ Điều 28 đến Điều 40 của Pháp lệnh
này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính. Trong trường
hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung
tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể. 3. Trong trường hợp xử
phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử
phạt được xác định theo nguyên tắc sau đây: a) Nếu hình thức, mức
xử phạt được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử
phạt, thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó; b) Nếu hình thức, mức
xử phạt được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người
xử phạt, thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt; c) Nếu các hành vi
thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì quyền
xử phạt thuộc Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi
phạm. CHƯƠNG V Điều 43. Các biện
pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính 1. Trong trường hợp
cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm
hành chính, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp sau đây theo thủ
tục hành chính: a) Tạm giữ người; b) Tạm giữ tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính; c) Khám người; d) Khám phương tiện
vận tải, đồ vật; đ) Khám nơi cất giấu
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; e) Bảo lãnh hành
chính; g) Quản lý người nước
ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; h) Truy tìm đối tượng
phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa
bệnh trong trường hợp bỏ trốn. 2. Khi áp dụng các
biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền phải tuân thủ
nghiêm ngặt quy định tại các điều từ Điều 44 đến Điều 52 của Pháp lệnh này; nếu
vi phạm thì bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh này. Điều 44. Tạm giữ người
theo thủ tục hành chính 1. Việc tạm giữ người
theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình
chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác
hoặc cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng làm căn cứ để quyết định
xử lý vi phạm hành chính. 2. Mọi trường hợp tạm
giữ người đều phải có quyết định bằng văn bản và phải giao cho người bị tạm giữ
một bản. 3. Thời hạn tạm giữ người
theo thủ tục hành chính không được quá 12 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người
vi phạm; trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng
không được quá 24 giờ. Đối với người vi phạm
quy chế biên giới hoặc vi phạm hành chính ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải
đảo thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 48 giờ, kể từ
thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm. 4. Theo yêu cầu của người
bị tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho gia đình, tổ chức
nơi làm việc hoặc học tập của họ biết. Trong trường hợp tạm giữ người chưa
thành niên vi phạm hành chính vào ban đêm hoặc giữ trên 6 giờ, thì người ra
quyết định tạm giữ phải thông báo ngay cho cha mẹ hoặc người giám hộ của họ
biết. 5. Nghiêm cấm việc giữ
người vi phạm hành chính trong các phòng tạm giữ, phòng tạm giam hình sự hoặc
những nơi không bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người bị tạm giữ. 6. Chính phủ ban hành
Quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính. Điều 45. Thẩm quyền
tạm giữ người theo thủ tục hành chính 1. Những người sau đây
có quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính: a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, thị trấn, Trưởng
Công an phường; b) Trưởng Công an cấp
huyện; c) Trưởng phòng Cảnh
sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng
phòng Cảnh sát kinh tế, Trưởng phòng Cảnh sát hình sự, Trưởng phòng Cảnh sát
phòng chống tội phạm ma túy, Trưởng phòng Quản lý xuất cảnh, nhập cảnh của Công
an cấp tỉnh; d) Thủ trưởng đơn vị
Cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên hoạt động có tính chất độc lập, Trạm trưởng
Trạm Công an cửa khẩu; đ) Hạt trưởng Hạt Kiểm
lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động; e) Chi cục trưởng Hải
quan, Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát
chống buôn lậu và Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển thuộc Cục điều tra
chống buôn lậu Tổng cục Hải quan; g) Đội trưởng Đội Quản
lý thị trường; h) Chỉ huy trưởng Tiểu
khu biên phòng, Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng, Chỉ huy trưởng Hải đội biên
phòng, Trưởng đồn biên phòng và Thủ trưởng đơn vị bộ đội biên phòng đóng ở biên
giới, hải đảo; i) Hải đội trưởng, Hải
đoàn trưởng Cảnh sát biển; k) Người chỉ huy tàu
bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng. 2. Trong trường hợp
những người quy định tại khoản 1 Điều này vắng mặt thì cấp phó được ủy quyền có
quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính và phải chịu trách nhiệm
về quyết định của mình. Điều 46. Tạm giữ
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính 1. Việc tạm giữ tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần để
xác minh tình tiết làm căn cứ quyết định xử lý hoặc ngăn chặn ngay vi phạm hành
chính. Những người được quy
định tại Điều 45 của Pháp lệnh này, Chánh thanh tra chuyên ngành cấp sở và
Chánh Thanh tra chuyên ngành bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có
quyền quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. 2. Trong trường hợp có
căn cứ để cho rằng nếu không tạm giữ ngay thì tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính có thể bị tẩu tán, tiêu hủy thì thủ trưởng trực tiếp của chiến sĩ
Cảnh sát nhân dân, Bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, nhân viên Hải quan, kiểm
soát viên thị trường hoặc thanh tra viên chuyên ngành được quyền ra quyết định
tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ
khi ra quyết định, người ra quyết định phải báo cáo thủ trưởng của mình là một
trong những người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính được quy định tại khoản 1 Điều này và được sự đồng ý bằng văn bản của người
đó; trong trường hợp không được sự đồng ý của họ thì người đã ra quyết định tạm
giữ phải hủy ngay quyết định tạm giữ và trả lại vật, tiền, hàng hóa, phương
tiện đã bị tạm giữ. 3. Người ra quyết định
tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải lập biên bản về việc tạm
giữ. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại tang vật, phương tiện
bị tạm giữ và phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ, người vi phạm. Người
ra quyết định tạm giữ có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện đó; nếu do
lỗi của người này mà tang vật, phương tiện bị mất, bán, đánh tráo hoặc hư hỏng
thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trong trường hợp tang
vật, phương tiện vi phạm cần được niêm phong thì phải tiến hành ngay trước mặt
người vi phạm; nếu người vi phạm vắng mặt thì phải tiến hành niêm phong trước
mặt đại diện gia đình, đại diện tổ chức, đại diện chính quyền và người chứng
kiến. 4- Đối với tiền Việt
Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim khí quý, các chất ma túy và những vật
thuộc chế độ quản lý đặc biệt khác, thì việc bảo quản được thực hiện theo quy
định của pháp luật. Đối với tang vật vi
phạm hành chính là loại hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người ra quyết
định tạm giữ phải xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 61 của Pháp lệnh này. 5. Trong thời hạn mười
ngày, kể từ ngày tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải xử lý tang vật, phương
tiện bị tạm giữ theo những biện pháp ghi trong quyết định xử lý hoặc trả lại
cho cá nhân, tổ chức nếu không áp dụng hình thức phạt tịch thu đối với tang
vật, phương tiện bị tạm giữ. Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính có thể được kéo dài đối với những vụ việc phức tạp, cần tiến hành
xác minh nhưng tối đa không quá sáu mươi ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, phương
tiện. Việc kéo dài thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện phải do những người được
quy định tại khoản 1 Điều này quyết định. 6. Việc tạm giữ tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có quyết định bằng văn bản kèm theo
biên bản tạm giữ và phải giao cho người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm một
bản. Điều 47. Khám người
theo thủ tục hành chính 1. Việc khám người
theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng người đó cất
giấu trong người đồ vật, tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính. 2. Những người được
quy định tại Điều 45 của Pháp lệnh này có quyền quyết định khám người theo thủ
tục hành chính. Trong trường hợp có
căn cứ để cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì đồ vật, tài liệu, phương
tiện vi phạm hành chính có thể bị tẩu tán, tiêu hủy, thì ngoài những người được
quy định tại Điều 45 của Pháp lệnh này, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân, cảnh sát
viên Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển, chiến sĩ Bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên,
kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ được khám người theo thủ tục
hành chính và báo cáo ngay bằng văn bản cho thủ trưởng của mình là một trong
những người được quy định tại Điều 45 của Pháp lệnh này và phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc khám người. 3. Việc khám người
phải có quyết định bằng văn bản, trừ trường hợp cần khám ngay theo quy định tại
đoạn 2 khoản 2 Điều này. 4. Trước khi tiến hành
khám người, người khám phải thông báo quyết định cho người bị khám biết. Khi
khám người, nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng giới chứng kiến. 5. Mọi trường hợp khám
người đều phải lập biên bản. Quyết định khám người và biên bản khám người phải
được giao cho người bị khám một bản. Điều 48. Khám phương
tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính 1.Việc khám phương
tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ
cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật đó có cất giấu tang vật vi phạm hành
chính. 2. Những người được
quy định tại Điều 45 của Pháp lệnh này, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân, cảnh sát
viên Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển, chiến sĩ Bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên,
nhân viên thuế vụ, kiểm soát viên thị trường, thanh tra viên chuyên ngành đang
thi hành công vụ có quyền khám phương tiện vận tải, đồ vật trong phạm vi thẩm
quyền của mình. 3. Khi tiến hành khám
phương tiện vận tải, đồ vật phải có mặt chủ phương tiện vận tải, đồ vật hoặc người
điều khiển phương tiện vận tải và một người chứng kiến; trong trường hợp chủ phương
tiện, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vắng mặt thì phải có hai người
chứng kiến. 4. Mọi trường hợp khám
phương tiện vận tải, đồ vật đều phải lập biên bản và phải giao cho chủ phương
tiện vận tải, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vận tải một bản. Điều 49. Khám nơi
cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính 1. Khám nơi cất giấu
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho
rằng ở nơi đó có cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. 2. Những người được
quy định tại Điều 45 của Pháp lệnh này có quyền quyết định khám nơi cất giấu
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; trong trường hợp nơi cất giấu tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính là nơi ở thì quyết định khám phải được sự
đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện trước khi tiến hành. 3. Khi khám nơi cất
giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có mặt người chủ nơi bị khám
hoặc người thành niên trong gia đình họ và người chứng kiến. Trong trường hợp
người chủ nơi bị khám, người thành niên trong gia đình họ vắng mặt mà việc khám
không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người chứng kiến. 4. Không được khám nơi
cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ban đêm, trừ trường hợp
khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. 5. Mọi trường hợp khám
nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có quyết định bằng
văn bản và phải lập biên bản. Quyết định khám nơi cất giấu tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính và biên bản phải được giao cho người chủ nơi bị khám
một bản. 1. Bảo lãnh hành chính
là việc giao cho gia đình, tổ chức xã hội nhận quản lý, giám sát người có hành
vi vi phạm pháp luật thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng,
cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong thời gian cơ quan có thẩm quyền làm thủ
tục xem xét, quyết định việc áp dụng các biện pháp này nếu người đó có nơi cư
trú nhất định. 2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết
định giao việc bảo lãnh hành chính cho gia đình, tổ chức xã hội nơi đối tượng cư
trú. Trong trường hợp đối tượng là người chưa thành niên thì trách nhiệm bảo
lãnh hành chính được giao cho cha mẹ hoặc người giám hộ. Gia đình, tổ chức xã
hội, người được giao trách nhiệm bảo lãnh hành chính có trách nhiệm không để
đối tượng tiếp tục vi phạm pháp luật và bảo đảm sự có mặt của đối tượng tại nơi
cư trú khi được yêu cầu. Việc bảo lãnh hành
chính chấm dứt khi hết thời hạn bảo lãnh ghi trong quyết định giao bảo lãnh
hoặc khi đối tượng được đưa đi chấp hành biện pháp quy định tại khoản 1 Điều
này. 3. Chính phủ quy định
cụ thể về bảo lãnh hành chính. Điều 51. Quản lý
đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục
trục xuất Việc quản lý người nước
ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất do Chính
phủ quy định. Điều 52. Truy tìm
đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở
chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn 1. Trong trường hợp người
đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh bỏ
trốn trước khi được đưa vào trường hoặc cơ sở, thì cơ quan Công an cấp huyện
nơi người đó cư trú ra quyết định truy tìm đối tượng. Trong trường hợp người
đang chấp hành tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh bỏ trốn
thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng hoặc Giám đốc cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh
ra quyết định truy tìm đối tượng. Cơ quan Công an có trách nhiệm phối hợp với
trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong việc truy tìm đối tượng
để đưa người đó trở lại trường hoặc cơ sở. 2. Đối với người có
quyết định đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành quyết định tại trường
giáo dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này, nếu khi bị bắt lại mà người đó đã đủ
18 tuổi thì Trưởng Công an cấp huyện đề nghị Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện
hủy quyết định đưa vào trường giáo dưỡng và lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở
giáo dục. CHƯƠNG VI Điều 53. Đình chỉ
hành vi vi phạm hành chính Khi phát hiện vi phạm
hành chính, người có thẩm quyền xử lý phải ra lệnh đình chỉ ngay hành vi vi
phạm hành chính. Trong trường hợp xử
phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 5.000 đồng đến 100.000 đồng thì người có thẩm
quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ. Quyết định xử phạt
phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, địa chỉ của người vi phạm
hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi
phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; điều, khoản của văn bản pháp
luật được áp dụng. Quyết định này phải được giao cho cá nhân, tổ chức bị xử
phạt một bản. Trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền
phạt. Cá nhân, tổ chức vi phạm có thể nộp tiền phạt tại chỗ cho người có thẩm
quyền xử phạt; trong trường hợp nộp tiền phạt tại chỗ thì được nhận biên lai
thu tiền phạt. Điều 55. Lập biên bản về vi phạm hành
chính 1. Khi phát hiện vi
phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền xử phạt
đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử phạt theo
thủ tục đơn giản. Vi phạm hành chính xảy
ra trên tàu bay, tàu biển thì người chỉ huy tàu bay, tàu biển có trách nhiệm
lập biên bản để chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt khi tàu bay, tàu biển về
đến sân bay, bến cảng. 2. Trong biên bản về
vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên,
chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp người vi phạm hoặc
tên, địa chỉ tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm;
hành vi vi phạm; các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử
phạt (nếu có); tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ (nếu có); lời khai
của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người
bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa
chỉ, lời khai của họ. 3. Biên bản phải được
lập thành ít nhất hai bản; phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc
đại diện tổ chức vi phạm ký; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc
đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trong trường
hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký
vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng
kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người
lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản. 4. Biên bản lập xong
phải được giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm một bản; nếu vụ vi phạm vượt quá
thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì người đó phải gửi biên bản đến người
có thẩm quyền xử phạt. 1. Thời hạn ra quyết
định xử phạt là mười ngày, kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính; đối
với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết
định xử phạt là ba mươi ngày. Trong trường hợp xét cần có thêm thời gian để xác
minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ trưởng trực
tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời
hạn gia hạn không được quá ba mươi ngày. Quá thời hạn nói trên, người có thẩm
quyền xử phạt không được ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp xử phạt trục
xuất; trong trường hợp không ra quyết định xử phạt thì vẫn có thể áp dụng các
biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh này và
tịch thu tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành. Người có thẩm quyền xử
phạt nếu có lỗi trong việc để quá thời hạn mà không ra quyết định xử phạt thì
bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh này. 2. Khi quyết định xử
phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính, thì người có thẩm
quyền chỉ ra một quyết định xử phạt trong đó quyết định hình thức, mức xử phạt
đối với từng hành vi vi phạm; nếu các hình thức xử phạt là phạt tiền thì cộng
lại thành mức phạt chung. 3. Trong quyết định xử
phạt phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ của người ra
quyết định; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ
của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm hành chính; những tình tiết liên quan đến
việc giải quyết vụ vi phạm; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng;
hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung (nếu có), các biện pháp khắc
phục hậu quả (nếu có); thời hạn, nơi thi hành quyết định xử phạt và chữ ký của
người ra quyết định xử phạt. Trong quyết định xử
phạt cũng phải ghi rõ cá nhân, tổ chức bị xử phạt nếu không tự nguyện chấp hành
thì bị cưỡng chế thi hành; quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử
phạt hành chính theo quy định của pháp luật. 4. Quyết định xử phạt
có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trường hợp trong quyết định quy định ngày có
hiệu lực khác. 5. Quyết định xử phạt
được gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt và cơ quan thu tiền phạt trong thời
hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định xử phạt. 1. Việc phạt tiền trên
100.000 đồng phải theo đúng quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Pháp lệnh này. 2. Khi phạt tiền, mức
tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của
khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì
mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của
khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên
nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt. 3. Trong trường hợp
chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, thì người có
thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy
phép lái xe hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan cho đến khi cá nhân, tổ
chức đó chấp hành xong quyết định xử phạt. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không
có những giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang
vật, phương tiện vi phạm. 4. Cá nhân, tổ chức bị
phạt tiền phải nộp tiền phạt và được nhận biên lai thu tiền phạt. 5. Tiền phạt thu được
phải nộp vào ngân sách nhà nước qua tài khoản mở tại Kho bạc nhà nước. 6. Chính phủ quy định
việc quản lý biên lai thu tiền phạt và tiền nộp phạt. 1. Trong thời hạn mười
ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt, cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải
nộp tiền phạt tại Kho bạc nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt, trừ trường
hợp đã nộp tiền phạt tại chỗ và những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Tại những vùng xa
xôi, hẻo lánh, trên sông, trên biển, những vùng mà việc đi lại gặp khó khăn
hoặc ngoài giờ hành chính thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền phạt
cho người có thẩm quyền xử phạt. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm thu
tiền phạt tại chỗ và nộp vào Kho bạc nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều
này. 3. Tại những vùng xa
xôi, hẻo lánh hoặc những vùng mà việc đi lại gặp khó khăn, thì người thu tiền
phạt tại chỗ có trách nhiệm nộp tiền phạt thu được tại Kho bạc nhà nước trong
thời hạn không quá bảy ngày, kể từ ngày thu tiền phạt; đối với các trường hợp
khác thì thời hạn trên là không quá hai ngày. Trong trường hợp thu tiền phạt
trên sông, trên biển, người thu tiền phạt phải nộp tại Kho bạc nhà nước trong
thời hạn hai ngày, kể từ ngày vào đến bờ. Điều 59. Thủ tục tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề 1. Khi tước quyền sử
dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, người có thẩm quyền xử phạt thu giữ giấy
phép, chứng chỉ hành nghề được ghi trong quyết định xử phạt và thông báo ngay
cho cơ quan đã cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó biết. 2. Khi hết thời hạn tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề ghi trong quyết định xử phạt, người
có thẩm quyền xử phạt giao lại giấy phép, chứng chỉ hành nghề cho cá nhân, tổ
chức đã bị tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó. 3. Khi phát hiện giấy
phép, chứng chỉ hành nghề được cấp không đúng thẩm quyền hoặc có nội dung trái
pháp luật thì người có thẩm quyền xử phạt phải tiến hành thu hồi ngay, đồng
thời báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền biết. Điều 60. Thủ tục tịch thu tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính Khi tịch thu tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính được ghi trong quyết định xử phạt, người có thẩm
quyền xử phạt phải lập biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng,
chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng, chất lượng của vật, tiền, hàng
hóa, phương tiện bị tịch thu và phải có chữ ký của người tiến hành tịch thu, người
bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt và người chứng kiến. Trong trường hợp cần
niêm phong tang vật, phương tiện vi phạm thì phải tiến hành ngay trước mặt người
bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt và người chứng kiến; nếu người bị
xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt vắng mặt thì phải có hai người chứng
kiến. Điều 61. Xử lý tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính 1. Đối với tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu thì người quyết định tịch thu có
trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện. Nếu tang vật, phương
tiện của một vụ vi phạm hành chính có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên thì người
quyết định tịch thu phải giao cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh nơi có
tang vật, phương tiện bị tịch thu. Nếu tang vật, phương tiện của một vụ vi phạm
hành chính có giá trị dưới 10.000.000 đồng thì người quyết định tịch thu phải
giao cho cơ quan tài chính cấp huyện tổ chức bán đấu giá. Việc bán đấu giá tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật
về bán đấu giá. Tiền thu được từ bán
đấu giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, sau khi trừ các chi phí theo
quy định của pháp luật, phải được nộp vào ngân sách nhà nước qua tài khoản mở
tại Kho bạc nhà nước. 2. Đối với tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính là văn hóa phẩm độc hại, hàng giả không có giá
trị sử dụng, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng bị
buộc tiêu hủy thì người có thẩm quyền phải lập Hội đồng xử lý để tiêu hủy. Tùy
thuộc vào tính chất của tang vật, phương tiện, thành phần Hội đồng xử lý gồm
đại diện các cơ quan nhà nước hữu quan. Việc tiêu hủy tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính phải được lập biên bản có chữ ký của các thành viên Hội đồng xử
lý. Đối với hàng hóa, vật
phẩm, phương tiện bị buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc bị buộc tái xuất,
thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong thời hạn
ghi trong quyết định xử phạt. 3. Đối với tang vật vi
phạm hành chính là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người có thẩm quyền
tịch thu phải tiến hành lập biên bản và tổ chức bán ngay. Tiền thu được phải
gửi vào tài khoản tạm gửi mở tại Kho bạc nhà nước. Nếu sau đó theo quyết định
của người có thẩm quyền, tang vật đó bị tịch thu thì tiền thu được phải nộp vào
ngân sách nhà nước; trong trường hợp tang vật đó không bị tịch thu thì tiền thu
được phải trả cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. 4. Đối với tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính, trừ tang vật, phương tiện quy định tại các
khoản 2 và 3 Điều này, mà không biết rõ chủ sở hữu, người quản lý, người sử
dụng hợp pháp hoặc những người này không đến nhận thì người có thẩm quyền tịch
thu phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công
khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tịch thu; trong thời hạn ba mươi
ngày, kể từ ngày thông báo được niêm yết công khai, nếu không xác định được chủ
sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp hoặc những người này không đến
nhận thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện
vi phạm để xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều này. 5. Đối với tang vật,
phương tiện bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thì trả lại
cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. 6. Chi phí lưu kho,
phí bến bãi, phí bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và các khoản
chi phí khác phù hợp với quy định của pháp luật được trừ vào tiền bán tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính. Không thu phí lưu kho,
phí bến bãi, phí bảo quản trong thời gian tang vật, phương tiện bị tạm giữ nếu
chủ tang vật, phương tiện không có lỗi trong việc vi phạm hành chính hoặc không
áp dụng biện pháp tịch thu đối với tang vật, phương tiện. Điều 62. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu
hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự 1. Khi xem xét vụ vi
phạm để quyết định xử phạt, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm,
thì người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng
hình sự có thẩm quyền. Nghiêm cấm việc giữ
lại các vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử phạt hành chính. 2. Đối với trường hợp
đã ra quyết định xử phạt, nếu sau đó phát hiện hành vi vi phạm có dấu hiệu tội
phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đã ra quyết
định xử phạt phải hủy quyết định đó và trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày hủy
quyết định xử phạt, phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng
hình sự có thẩm quyền. Điều 63. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử
phạt hành chính Trong trường hợp cá
nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố
tụng hình sự, nhưng sau đó lại có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ
án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn ba ngày, kể
từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án, cơ quan tiến hành
tố tụng hình sự phải chuyển quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án
kèm theo hồ sơ vụ vi phạm và đề nghị xử phạt hành chính đến người có thẩm quyền
xử phạt vi phạm hành chính. Điều 64. Chấp hành quyết định xử phạt
vi phạm hành chính 1. Cá nhân, tổ chức bị
xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn mười
ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác. 2. Quá thời hạn được
quy định tại khoản 1 Điều này mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính
không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành. Điều 65. Hoãn chấp hành quyết định phạt
tiền 1. Cá nhân bị phạt
tiền từ 500.000 đồng trở lên có thể được hoãn chấp hành quyết định xử phạt
trong trường hợp đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú hoặc tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận. 2. Thời hạn hoãn chấp
hành quyết định phạt tiền không quá ba tháng, kể từ khi có quyết định hoãn. 3. Người đã ra quyết
định phạt tiền có quyền quyết định hoãn chấp hành quyết định phạt tiền đó. 4. Người được hoãn
chấp hành quyết định phạt tiền được nhận lại giấy tờ, tang vật, phương tiện
đang bị tạm giữ theo quy định tại khoản 3 Điều 57 của Pháp lệnh này. Điều 66. Cưỡng chế thi hành quyết định
xử phạt vi phạm hành chính 1. Cá nhân, tổ chức bị
xử phạt vi phạm hành chính mà không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì
bị cưỡng chế thi hành bằng các biện pháp sau đây: a) Khấu trừ một phần lương
hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản tại ngân hàng; b) Kê biên tài sản có
giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; c) Các biện pháp cưỡng
chế khác để thực hiện tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm
hành chính, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm
hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép, buộc thực
hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh,
buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương
tiện, buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây
trồng, văn hóa phẩm độc hại. 2. Cá nhân, tổ chức
nhận được quyết định cưỡng chế phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định cưỡng
chế. 3. Cá nhân, tổ chức bị
cưỡng chế phải chịu mọi chi phí về việc tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng
chế. 4. Việc cưỡng chế bằng
các biện pháp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này phải được thông
báo bằng văn bản trước khi thi hành cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện việc cưỡng chế để
phối hợp thực hiện. 5. Các cơ quan chức
năng của Ủy ban nhân dân có trách nhiệm
thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp theo sự phân công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân. 6. Lực lượng Cảnh sát
nhân dân có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết
định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cùng cấp hoặc quyết định cưỡng chế của các cơ quan khác của Nhà nước
khi được các cơ quan đó yêu cầu. 7. Thủ tục áp dụng các
biện pháp cưỡng chế do Chính phủ quy định. Điều 67. Thẩm quyền ra quyết định cưỡng
chế Những người sau đây có
thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế và có nhiệm vụ tổ chức việc cưỡng chế thi
hành quyết định xử phạt của mình và của cấp dưới: 1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp
huyện, cấp tỉnh; 2. Trưởng Công an cấp
huyện, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về
trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Cục trưởng Cục Cảnh sát
phòng cháy, chữa cháy, Cục trưởng Cục Cảnh sát kinh tế, Cục trưởng Cục Cảnh sát
hình sự, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm ma túy, Cục trưởng Cục
Quản lý xuất cảnh, nhập cảnh; 3. Trưởng Đồn biên
phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh; Cục trưởng Cục Cảnh sát biển; 4. Cục trưởng Cục Hải
quan, Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan; 5. Chi cục trưởng Chi
cục Kiểm lâm, Cục trưởng Cục Kiểm lâm; 6. Cục trưởng Cục
Thuế; 7. Chi cục trưởng Chi
cục Quản lý thị trường, Cục trưởng Cục Quản lý thị trường; 8. Chánh thanh tra
chuyên ngành cấp sở, Chánh thanh tra chuyên ngành bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ; 9. Thẩm phán chủ tọa
phiên tòa, Trưởng phòng thi hành án dân sự cấp tỉnh, Trưởng phòng thi hành án
Quân khu và cấp tương đương. Điều 68. Chuyển quyết định xử phạt vi
phạm hành chính để thi hành Trong trường hợp cá
nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính ở một địa phương nhưng cư trú, đóng
trụ sở ở địa phương khác và không có điều kiện chấp hành quyết định xử phạt tại
nơi bị xử phạt, thì quyết định xử phạt được chuyển đến nơi cá nhân cư trú, tổ
chức đóng trụ sở để chấp hành theo quy định của Chính phủ. Điều 69. Thời hiệu thi hành quyết định
xử phạt vi phạm hành chính Thời hiệu thi hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính là một năm, kể từ ngày ra quyết định xử
phạt; quá thời hạn này mà quyết định đó không được thi hành thì không thi hành
quyết định xử phạt nữa nhưng vẫn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được ghi
trong quyết định. Trong trường hợp cá
nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói trên được
tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn. Chương VII Mục I Điều 70. Quyết định việc giáo dục tại
xã, phường, thị trấn 1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tự mình
hoặc theo đề nghị của một trong các cơ quan, tổ chức sau đây quyết định việc
giáo dục tại xã, phường, thị trấn: a) Trưởng Công an cấp
xã; b) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã; c) Đại diện cơ quan,
tổ chức, đơn vị dân cư ở cơ sở. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cũng có
thể quyết định việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn trên cơ sở hồ sơ, biên
bản về hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng do cơ quan Công an cấp huyện,
cấp tỉnh cung cấp. 2. Trước khi quyết
định việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức
cuộc họp gồm Trưởng Công an cấp xã, đại diện Ban Tư pháp, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ
chức xã hội cùng cấp có liên quan, đại diện dân cư ở cơ sở, gia đình của người
được đề nghị giáo dục để xem xét việc áp dụng biện pháp này. 3. Trong thời hạn ba
ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc họp quy định tại khoản 2 Điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét,
quyết định việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Tùy theo từng đối tượng
mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết
định giao người được giáo dục cho cơ quan, tổ chức, gia đình quản lý, giáo dục. 4. Quyết định giáo dục
tại xã, phường, thị trấn có hiệu lực kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho người
được giáo dục, gia đình người đó, Hội đồng nhân dân cấp xã và các cơ quan, tổ
chức có liên quan. Điều 71. Nội dung quyết định giáo dục
tại xã, phường, thị trấn Quyết định giáo dục
tại xã, phường, thị trấn phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên,
chức vụ của người ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của
người được giáo dục; hành vi vi phạm pháp luật của người đó; điều, khoản của
văn bản pháp luật được áp dụng, thời hạn áp dụng, ngày thi hành quyết định;
trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình được giao giáo dục, quản lý người được
giáo dục; quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định giáo dục tại xã, phường,
thị trấn theo quy định của pháp luật. Điều 72. Thi hành quyết định giáo dục
tại xã, phường, thị trấn Trong thời hạn bảy
ngày, kể từ ngày quyết định có hiệu lực, cơ quan, tổ chức được giao quản lý,
giáo dục phải tổ chức cuộc họp để thi hành quyết định đó đối với người được
giáo dục. Tùy từng đối tượng được giáo dục mà cuộc họp có sự tham gia của đại
diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, cơ quan
Công an, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên ở cơ sở, nhà trường và gia
đình người được giáo dục. Sau cuộc họp, cơ quan,
tổ chức được giao quản lý, giáo dục có trách nhiệm giúp đỡ, động viên người được
giáo dục trong cuộc sống, giúp đỡ họ tìm kiếm việc làm hoặc đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp xã tạo điều
kiện, tìm kiếm việc làm cho người được giáo dục. Mỗi tháng một lần, cơ
quan, tổ chức, gia đình được giao nhiệm vụ quản lý, giáo dục có trách nhiệm báo
cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã về việc
thi hành quyết định; nếu người được giáo dục có tiến bộ rõ rệt thì theo đề nghị
của cơ quan, tổ chức được giao trách nhiệm quản lý và ý kiến bằng văn bản của
các cơ quan, tổ chức có liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định miễn chấp hành phần thời gian còn
lại của quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Điều 73. Thời hiệu thi hành quyết định
giáo dục tại xã, phường, thị trấn Quyết định giáo dục
tại xã, phường, thị trấn hết thời hiệu thi hành sau sáu tháng, kể từ ngày ra
quyết định. Trong trường hợp người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn cố
tình trốn tránh việc thi hành, thì thời hiệu nói trên được tính lại kể từ thời
điểm hành vi trốn tránh chấm dứt. Điều 74. Hết hạn chấp hành biện pháp
giáo dục tại xã, phường, thị trấn Khi người được giáo
dục tại xã, phường, thị trấn đã chấp hành xong quyết định thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp giấy
chứng nhận cho người đó. Mục 2 Điều 75. Lập hồ sơ đề nghị đưa vào trường
giáo dưỡng 1. Đối với người chưa
thành niên có hành vi vi phạm pháp luật được quy định tại Điều 24 của Pháp lệnh
này cần đưa vào trường giáo dưỡng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ gửi
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Hồ sơ gồm có bản tóm
tắt lý lịch, tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó, biện pháp giáo dục
đã áp dụng, nhận xét của cơ quan Công an, ý kiến của nhà trường, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn
thanh niên, Hội phụ nữ, Ban Dân số, gia đình và trẻ em ở cơ sở, của cha mẹ hoặc
người giám hộ. 2. Đối với người chưa
thành niên không có nơi cư trú nhất định thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó có hành vi vi phạm pháp luật lập biên bản, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Trong trường hợp đối tượng
do cơ quan Công an cấp tỉnh, cấp huyện trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý
trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
mà thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng thì cơ quan Công an đang thụ lý
phải xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Hồ sơ gồm có bản tóm
tắt lý lịch, tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó, bản trích lục tiền
án, tiền sự, biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có). 3. Cơ quan Công an có
trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cùng cấp trong việc thu thập tài liệu và lập hồ sơ. 4. Trong thời hạn ba
ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hoặc biên bản quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giao
cho Trưởng Công an cùng cấp. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được
hồ sơ, cơ quan Công an cấp huyện có trách nhiệm thẩm tra, thu thập tài liệu,
hoàn chỉnh hồ sơ và gửi hồ sơ đến các thành viên Hội đồng tư vấn. Điều 76. Hội đồng tư vấn về việc đưa
vào trường giáo dưỡng 1. Hội đồng tư vấn về
việc đưa vào trường giáo dưỡng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập gồm Trưởng Công an,
Trưởng phòng Tư pháp, Chủ nhiệm Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em cấp huyện; Trưởng Công an là thường
trực Hội đồng tư vấn. 2. Trong thời hạn bảy
ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Hội đồng tư vấn có trách nhiệm xem xét hồ sơ
và tổ chức cuộc họp để xét duyệt hồ sơ. Hội đồng tư vấn làm
việc theo chế độ tập thể, kết luận theo đa số. Các ý kiến khác nhau phải ghi
vào biên bản cuộc họp kèm theo báo cáo trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Điều 77. Quyết định việc đưa vào trường
giáo dưỡng 1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem
xét, quyết định việc đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn năm ngày, kể từ
ngày nhận được báo cáo của Hội đồng tư vấn. 2. Quyết định có hiệu
lực kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho người được đưa vào trường giáo dưỡng,
cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó, cơ quan Công an cấp huyện, Hội đồng
nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú. Điều 78. Nội dung quyết định đưa vào trường
giáo dưỡng Quyết định đưa vào trường
giáo dưỡng phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ của người
ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được đưa
vào trường giáo dưỡng; hành vi vi phạm pháp luật của người đó và điều, khoản
của văn bản pháp luật được áp dụng; thời hạn và nơi thi hành quyết định; quyền
khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định đưa vào trường giáo dưỡng theo quy định
của pháp luật. Điều 79. Thi hành quyết định đưa vào trường
giáo dưỡng 1. Trong thời hạn năm
này, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan Công an cấp huyện có trách nhiệm phối
hợp với gia đình hoặc người giám hộ đưa người phải chấp hành quyết định vào trường
giáo dưỡng. 2. Thời hạn chấp hành
quyết định đưa vào trường giáo dưỡng được tính từ ngày người phải chấp hành
quyết định được đưa đi trường giáo dưỡng. Điều 80. Hoãn hoặc miễn chấp hành quyết
định đưa vào trường giáo dưỡng 1. Người được đưa vào
trường giáo dưỡng được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây: a) Đang ốm nặng có
chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên; b) Gia đình đang có
khó khăn đặc biệt có đơn đề nghị, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Khi điều kiện hoãn
chấp hành quyết định không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành; nếu trong
thời gian được hoãn, người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật
hoặc lập công, thì có thể được miễn chấp hành quyết định. 2. Người được đưa vào
trường giáo dưỡng được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây: a) Mắc bệnh hiểm nghèo
có chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên; b) Đang có thai có
chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên hoặc phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới
36 tháng tuổi có đơn đề nghị và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. 3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem
xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành trên cơ sở đơn đề nghị của người
phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng. Trong trường hợp cần thiết,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giao
cho Trưởng Công an cùng cấp thẩm tra trước khi quyết định. Điều 81. Giảm thời hạn, tạm đình chỉ
hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng 1. Người được đưa vào
trường giáo dưỡng đã chấp hành một nửa thời hạn, nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập
công, thì được xét giảm một phần hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại. 2. Trong trường hợp người
đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng bị ốm nặng mà được đưa về gia
đình điều trị thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định; thời gian điều trị được
tính vào thời gian thi hành quyết định; nếu sau khi sức khỏe được phục hồi mà
thời hạn chấp hành còn lại từ sáu tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp
hành tại cơ sở. Đối với trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo hoặc phụ nữ có thai thì
được miễm chấp hành phần thời gian còn lại. 3. Cục trưởng Cục quản
lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng quyết định việc giảm thời hạn,
tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này trên
cơ sở đề nghị của Hiệu trưởng trường giáo dưỡng. Quyết định này được gửi cho
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã
ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng. Điều 82. Thời hiệu thi hành quyết định
đưa vào trường giáo dưỡng Quyết định đưa vào trường
giáo dưỡng hết thời hiệu thi hành sau một năm, kể từ ngày ra quyết định. Trong
trường hợp người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng cố tình trốn
tránh việc thi hành, thì thời hiệu nói trên được tính lại kể từ thời điểm hành
vi trốn tránh chấm dứt. Điều 83. Hết hạn chấp hành biện pháp đưa
vào trường giáo dưỡng Khi người được đưa vào
trường giáo dưỡng đã chấp hành xong quyết định thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng
cấp giấy chứng nhận cho người đó và gửi bản sao giấy chứng nhận cho Cục trưởng
Cục quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã
ra quyết định, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú và cho gia đình người đó. Mục 3 Điều 84. Lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ
sở giáo dục. 1. Đối với người có
hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 25 của Pháp lệnh này cần đưa vào cơ
sở giáo dục thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú xem xét, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Hồ sơ gồm có bản tóm
tắt lý lịch, tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó, các biện pháp giáo
dục đã áp dụng, nhận xét của cơ quan Công an, ý kiến của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức xã hội cùng cấp có liên quan. 2. Đối với người không
có nơi cư trú nhất định thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập
biên bản, báo cáo Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp huyện. Trong trường hợp đối tượng
do cơ quan Công an cấp huyện, cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý
trong các vụ vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, thì cơ quan Công an đang thụ lý phải
xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp. Hồ sơ gồm có bản tóm
tắt lý lịch, tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó, bản trích lục tiền
án, tiền sự, biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có). 3. Cơ quan Công an có
trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cùng cấp trong việc thu thập tài liệu để lập hồ sơ. 4. Trong thời hạn hai
mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thẩm
tra hồ sơ, gửi hồ sơ đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được
hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi hồ
sơ đến các thành viên Hội đồng tư vấn. Trong trường hợp cơ quan Công an cấp
tỉnh đã lập hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều này thì báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và gửi
hồ sơ đến các thành viên Hội đồng tư vấn. Điều 85. Hội đồng tư vấn về việc đưa
vào cơ sở giáo dục 1. Hội đồng tư vấn về
việc đưa vào cơ sở giáo dục do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập gồm Giám đốc Công an,
Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp
tỉnh; Giám đốc Công an là thường trực Hội đồng tư vấn. 2. Trong thời hạn mười
lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Hội đồng tư vấn có trách nhiệm xem xét hồ
sơ và tổ chức cuộc họp để xét duyệt hồ sơ. Hội đồng tư vấn làm
việc theo chế độ tập thể, kết luận theo đa số. Các ý kiến khác nhau phải được
ghi vào biên bản cuộc họp kèm theo báo cáo trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Điều 86. Quyết định việc đưa vào cơ sở
giáo dục 1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem
xét, quyết định việc đưa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày
nhận được báo cáo của Hội đồng tư vấn. 2. Quyết định đưa vào
cơ sở giáo dục có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho người
bị đưa vào cơ sở giáo dục, cơ quan Công an cấp tỉnh, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú. Điều 87. Nội dung quyết định đưa vào cơ
sở giáo dục Quyết định đưa vào cơ
sở giáo dục phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ của người
ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của người
bị đưa vào cơ sở giáo dục; hành vi vi phạm pháp luật của người đó; điều, khoản
của văn bản pháp luật được áp dụng; thời hạn và nơi thi hành quyết định; quyền
khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định đưa vào cơ sở giáo dục theo quy định
của pháp luật. Điều 88. Thi hành quyết định đưa vào cơ
sở giáo dục 1. Trong thời hạn năm
ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm đưa người
phải chấp hành quyết định vào cơ sở giáo dục. 2. Thời hạn chấp hành
quyết định đưa vào cơ sở giáo dục được tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp
này được đưa đi cơ sở giáo dục. Điều 89. Hoãn hoặc miễn chấp hành quyết
định đưa vào cơ sở giáo dục 1. Người bị đưa vào cơ
sở giáo dục được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây: a) Đang ốm nặng có
chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên; b) Đang có thai có
chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên hoặc phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới
36 tháng tuổi có đơn đề nghị và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận; c) Gia đình đang gặp
khó khăn đặc biệt có đơn đề nghị và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Khi điều kiện hoãn
chấp hành không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành. 2. Người bị đưa vào cơ
sở giáo dục được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây: a) Đang mắc bệnh hiểm
nghèo có chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên và người đó không còn
nguy hiểm cho xã hội; b) Trong thời gian
hoãn chấp hành quyết định mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành
pháp luật hoặc lập công. 3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem
xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành trên cơ sở đơn đề nghị của người
phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục. Trong trường hợp cần thiết,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao
cho Giám đốc Công an cùng cấp thẩm tra các trường hợp cụ thể quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều này trước khi ra quyết định. Điều 90. Giảm thời hạn, tạm đình chỉ
hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục 1. Người bị đưa vào cơ
sở giáo dục đã chấp hành một nửa thời hạn, nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công
thì được xét giảm một phần hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại. 2. Trong trường hợp người
đang chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục bị ốm nặng mà được đưa về gia đình
điều trị thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định; thời gian điều trị được
tính vào thời hạn chấp hành quyết định; nếu sau khi sức khỏe được phục hồi mà
thời hạn chấp hành còn lại từ ba tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp
hành tại cơ sở. Đối với phụ nữ có thai thì được tạm đình chỉ thi hành quyết
định cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi; nếu trong thời gian tạm đình chỉ mà người
đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được miễn chấp hành phần thời gian còn
lại. Đối với người mắc bệnh hiểm nghèo thì được miễn chấp hành phần thời gian
còn lại. 3. Cục trưởng Cục quản
lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng quyết định việc giảm thời hạn,
tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này trên
cơ sở đề nghị của Giám đốc cơ sở giáo dục. Quyết định này được gửi đến Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã
ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục. Điều 91. Thời hiệu thi hành quyết định đưa
vào cơ sở giáo dục Quyết định đưa vào cơ
sở giáo dục hết thời hiệu thi hành sau một năm, kể từ ngày ra quyết định. Trong
trường hợp người bị đưa vào cơ sở giáo dục cố tình trốn tránh việc thi hành thì
thời hiệu nói trên được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh chấm dứt. Điều 92. Hết hạn chấp hành biện pháp đưa
vào cơ sở giáo dục Khi người bị đưa vào
cơ sở giáo dục đã chấp hành xong quyết định thì Giám đốc cơ sở giáo dục cấp
giấy chứng nhận cho người đó và gửi bản sao giấy chứng nhận đến Cục trưởng Cục
quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã
ra quyết định và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú. Mục 4 Điều 93. Lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ
sở chữa bệnh 1. Đối với người có
hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 26 của Pháp lệnh này cần áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xem xét, lập
hồ sơ gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Hồ sơ gồm có bản tóm
tắt lý lịch, bệnh án (nếu có), tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó
và các biện pháp giáo dục đã áp dụng, nhận xét của cơ quan Công an, ý kiến của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức xã hội cùng cấp có liên quan. 2. Đối với người không
có nơi cư trú nhất định thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập
biên bản, báo cáo Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp huyện. Trong trường hợp đối tượng
do cơ quan Công an cấp tỉnh, cấp huyện trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý
trong các vụ vi phạm pháp luật mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh thì
cơ quan Công an đang thụ lý phải xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ gửi Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Hồ sơ gồm có bản tóm
tắt lý lịch, bệnh án (nếu có), tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó,
biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có). 3. Cơ quan Công an có
trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cùng cấp trong việc thu thập tài liệu và lập hồ sơ. 4. Trong thời hạn ba
ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hoặc biên bản quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giao
cho Trưởng phòng Lao động-Thương binh và Xã hội. Trong thời hạn mười lăm ngày,
kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng Lao động-Thương binh và Xã hội phối
hợp với cơ quan Công an cùng cấp thẩm tra hồ sơ, thu thập tài liệu, hoàn chỉnh
hồ sơ và gửi hồ sơ đến các thành viên của Hội đồng tư vấn. Điều 94. Hội đồng tư vấn về việc đưa
vào cơ sở chữa bệnh 1. Hội đồng tư vấn về
việc đưa vào cơ sở chữa bệnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập gồm Trưởng phòng Lao
động-Thương binh và Xã hội, Trưởng phòng Tư pháp, Trưởng Công an, Chủ tịch Hội
phụ nữ cấp huyện. Trong trường hợp đối tượng được đề nghị đưa vào cơ sở chữa
bệnh là người chưa thành niên thì Hội đồng tư vấn phải có sự tham gia của Chủ
nhiệm Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ
em cấp huyện. Trưởng phòng Lao động-Thương binh và Xã hội là thường trực Hội
đồng tư vấn. 2. Trong thời hạn bảy
ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Hội đồng tư vấn có trách nhiệm xem xét hồ sơ
và tổ chức cuộc họp để xét duyệt hồ sơ. Hội đồng tư vấn làm
việc theo chế độ tập thể, kết luận đa số. Các ý kiến khác nhau phải được ghi
vào biên bản cuộc họp kèm theo báo cáo trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Điều 95. Quyết định việc đưa vào cơ sở
chữa bệnh 1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem
xét, quyết định việc đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời hạn năm ngày, kể từ
ngày nhận được báo cáo của Hội đồng tư vấn. 2. Quyết định đưa vào
cơ sở chữa bệnh có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho người
bị đưa vào cơ sở chữa bệnh, gia đình người đó, Phòng Lao động-Thương binh và Xã
hội, cơ quan Công an, Hội đồng nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú. Trong trường hợp đối tượng là người chưa thành niên thì quyết định đưa
vào cơ sở chữa bệnh phải được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó. Điều 96. Nội dung quyết định đưa vào cơ
sở chữa bệnh Quyết định đưa vào cơ
sở chữa bệnh phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ của
người ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú
của người được đưa vào cơ sở chữa bệnh; hành vi vi phạm pháp luật của người đó
và điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng; thời hạn và nơi thi hành
quyết định; quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định đưa vào cơ sở chữa
bệnh theo quy định của pháp luật. Điều 97. Thi hành quyết định đưa vào cơ
sở chữa bệnh 1. Trong thời hạn năm
ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan Công an cấp huyện có trách nhiệm đưa người
phải chấp hành quyết định vào cơ sở chữa bệnh. 2. Thời hạn chấp hành
quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh được tính từ ngày người phải chấp hành quyết
định được đưa đi cơ sở chữa bệnh. Điều 98. Hoãn hoặc miễn chấp hành quyết
định đưa vào cơ sở chữa bệnh 1. Người bị đưa vào cơ
sở chữa bệnh được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây: a) Đang ốm nặng có
chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên; b) Đang có thai có
chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên hoặc phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới
36 tháng tuổi có đơn đề nghị được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Khi điều kiện hoãn
chấp hành không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành. 2. Người bị đưa vào cơ
sở chữa bệnh được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây: a) Đang mắc bệnh hiểm
nghèo có chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên; b) Trong thời gian
hoãn chấp hành quyết định mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành
pháp luật hoặc lập công. 3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem
xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành trên cơ sở đơn đề nghị của người
phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh. Trong trường hợp cần thiết,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giao
cho Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Trưởng Công an
cấp huyện thẩm tra các trường hợp cụ thể quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này trước khi ra quyết định. Điều 99. Giảm thời hạn, tạm đình chỉ
hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở chữa bệnh 1. Người bị đưa vào cơ
sở chữa bệnh đã chấp hành một nửa thời hạn, nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập
công, thì được xét giảm một phần hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại. 2. Trong trường hợp người
đang chấp hành quyết định tại cơ sở chữa bệnh bị ốm nặng mà được đưa về gia
đình điều trị thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định; thời gian điều trị được
tính vào thời hạn chấp hành quyết định; nếu sau khi sức khỏe được phục hồi mà
thời hạn chấp hành còn lại từ ba tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp
hành tại cơ sở. Đối với phụ nữ có thai thì được tạm đình chỉ thi hành quyết
định cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi; nếu trong thời gian tạm đình chỉ mà người
đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được miễn chấp hành phần thời gian còn
lại. Đối với người mắc bệnh hiểm nghèo thì được miễn chấp hành phần thời gian
còn lại. 3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã
ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh quyết định việc giảm thời hạn, tạm đình
chỉ hoặc miễn việc chấp hành quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này trên cơ
sở đề nghị của Giám đốc cơ sở chữa bệnh. Điều 100. Thời hiệu thi hành quyết định
đưa vào cơ sở chữa bệnh Quyết định đưa vào cơ
sở chữa bệnh hết thời hiệu thi hành sau một năm, kể từ ngày ra quyết định.
Trong trường hợp người bị đưa vào cơ sở chữa bệnh cố tình trốn tránh việc thi
hành, thì thời hiệu nói trên được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh
chấm dứt. Điều 101. Hết hạn chấp hành biện pháp đưa
vào cơ sở chữa bệnh Khi người bị đưa vào
cơ sở chữa bệnh đã chấp hành xong quyết định thì Giám đốc cơ sở chữa bệnh cấp
giấy chứng nhận cho người đó và gửi bản sao giấy chứng nhận cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã
ra quyết định, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú và cho gia đình người đó. Mục 5 Điều 102. Lập hồ sơ đề nghị quản chế hành
chính 1. Đối với người có
hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 27 của Pháp lệnh này cần quản chế
hành chính, thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi người
đó cư trú xem xét, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. 2. Hồ sơ gồm có bản
tóm tắt lý lịch, tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó, nhận xét của
cơ quan Công an cấp huyện, ý kiến của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú. 3. Cơ quan Công an cấp
huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc thu thập tài liệu để lập hồ sơ.
4. Trong thời hạn ba
ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao hồ
sơ cho Giám đốc Công an cấp tỉnh. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận
được hồ sơ, Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ và gửi hồ
sơ đến các thành viên Hội đồng tư vấn. Điều 103. Hội đồng tư vấn về việc quản
chế hành chính 1. Hội đồng tư vấn về
việc quản chế hành chính do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập gồm Giám đốc Công an,
Giám đốc Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh; Giám đốc Công an là thường trực Hội đồng tư vấn.
2. Trong thời hạn mười
lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Hội đồng tư vấn có trách nhiệm xem xét hồ
sơ và tổ chức cuộc họp để xét duyệt hồ sơ. Hội đồng tư vấn làm
việc theo chế độ tập thể, kết luận theo đa số. Các ý kiến khác nhau phải được
ghi vào biên bản cuộc họp kèm theo báo cáo trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Điều 104. Quyết định quản chế hành chính 1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem
xét, quyết định việc quản chế hành chính trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày
nhận được báo cáo của Hội đồng tư vấn. 2. Quyết định quản chế
hành chính có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho người
bị quản chế hành chính, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi
lập hồ sơ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và nơi thi hành quyết
định quản chế. Điều 105. Nội dung quyết định quản chế
hành chính Quyết định quản chế
hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ của người
ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của người
bị quản chế hành chính; hành vi vi phạm pháp luật của người đó; điều, khoản của
văn bản pháp luật được áp dụng; thời hạn và nơi thi hành quyết định; quyền
khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định quản chế hành chính theo quy định của
pháp luật. Điều 106. Thi hành quyết định quản chế
hành chính 1. Trong thời hạn năm
ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức
thi hành quyết định quản chế hành chính. 2. Thời hạn chấp hành
quyết định quản chế hành chính được tính từ ngày người bị áp dụng quản chế hành
chính bắt đầu chấp hành quyết định. Trong thời gian chấp hành quyết định, người
bị quản chế phải chịu sự quản lý, giáo dục của chính quyền cấp xã và nhân dân
địa phương nơi chấp hành quyết định quản chế hành chính. 3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
bị quản chế chấp hành quyết định có trách nhiệm quản lý, giáo dục người bị quản
chế; định kỳ ba tháng một lần báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện báo
cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Điều 107. Giảm thời hạn quản chế hành
chính 1. Người bị quản chế
hành chính đã chấp hành được một nửa thời hạn quản chế, nếu có tiến bộ rõ rệt
trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công thì có thể được xét giảm thời hạn
quản chế. 2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã
ra quyết định quản chế hành chính xem xét, quyết định giảm thời hạn quản chế
cho người bị quản chế trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi người
đó đang chấp hành quyết định quản chế. Điều 108. Thời hiệu thi hành quyết định
quản chế hành chính Quyết định quản chế
hành chính hết thời hiệu thi hành sau một năm, kể từ ngày ra quyết định. Trong
trường hợp người bị quản chế hành chính cố tình trốn tránh việc thi hành, thì
thời hiệu nói trên được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh chấm dứt. Điều 109. Hết hạn quản chế hành chính Khi người bị quản chế
hành chính đã chấp hành xong quyết định thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thi
hành quyết định quản chế cấp giấy chứng nhận cho người đó và gửi bản sao giấy
chứng nhận đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã
ra quyết định, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã
lập hồ sơ. Mục 6 QUAN ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH Điều 110. Tạm thời đưa người đang chấp
hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở
chữa bệnh ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính theo yêu cầu của cơ
quan tiến hành tố tụng hình sự 1. Theo yêu cầu của cơ
quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng,
Giám đốc cơ sở giáo dục, Giám đốc cơ sở chữa bệnh quyết định tạm thời đưa người
đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính ra khỏi nơi chấp hành các biện pháp
đó để tham gia tố tụng trong các vụ án có liên quan đến người đó. 2. Thời gian tạm thời
đưa ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính được tính vào thời hạn
chấp hành biện pháp đó. Điều 111. Chuyển hồ sơ của đối tượng bị
áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách
nhiệm hình sự 1. Khi xem xét hồ sơ
của đối tượng để quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác, nếu xét
thấy các hành vi vi phạm của người đó có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm
quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.
2. Đối với trường hợp
đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác, nếu sau đó phát hiện
hành vi vi phạm của người bị áp dụng biện pháp này có dấu hiệu tội phạm mà chưa
hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì người đã ra quyết định áp dụng
biện pháp xử lý hành chính khác phải hủy quyết định đó và trong thời hạn ba
ngày, kể từ ngày hủy quyết định phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan
tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền. Trong trường hợp bị
Tòa án xử phạt tù thì thời hạn chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa
vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh được tính vào thời hạn chấp hành
hình phạt tù. Hai ngày chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào
cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh được tính bằng một ngày chấp hành hình
phạt tù. Điều 112. Truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc trong thời gian chấp hành
biện pháp xử lý hành chính khác Trong trường hợp phát
hiện người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác đã thực hiện hành vi phạm
tội trước hoặc trong thời gian chấp hành quyết định, thì theo yêu cầu của cơ
quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, người đã ra quyết định giáo dục
tại xã, phường, thị trấn, quản chế hành chính hoặc Hiệu trưởng trường giáo dưỡng,
Giám đốc cơ sở giáo dục, Giám đốc cơ sở chữa bệnh phải ra quyết định tạm đình
chỉ thi hành quyết định đối với người đó và chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ
quan tiến hành tố tụng hình sự; trường hợp bị Tòa án xử phạt tù thì người đó được
miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp xử lý
hành chính khác; nếu hình phạt được áp dụng không phải là hình phạt tù thì người
đó có thể phải tiếp tục chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
khác. Điều 113. Xử lý trường hợp một người vừa
thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa
bệnh hoặc vừa thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng, vừa thuộc đối tượng đưa
vào cơ sở chữa bệnh Trong trường hợp một
người thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở
giáo dục, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh hoặc vừa thuộc đối tượng
đưa vào trường giáo dưỡng, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh thì cơ
quan có thẩm quyền chỉ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh. Cơ quan đã
thụ lý hồ sơ có trách nhiệm chuyển toàn bộ hồ sơ về người đó cho Hội đồng tư
vấn về việc đưa vào cơ sở chữa bệnh để tiến hành các thủ tục tiếp theo theo quy
định của pháp luật. Chương VIII PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH Điều 114. Giám sát của Hội đồng dân tộc,
các ủy ban của Quốc hội Hội đồng dân tộc, các
ủy ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: 1. Giám sát việc xử lý
vi phạm hành chính và yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan báo cáo
tình hình xử lý vi phạm hành chính; 2. Khi nhận được khiếu
nại, tố cáo về xử lý vi phạm hành chính, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì
yêu cầu người có thẩm quyền xem xét, giải quyết và báo cáo về việc giải quyết
đó; trong trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết thì kiến nghị với thủ
trưởng cấp trên của người đó để yêu cầu giải quyết. 3. Trong khi tiến hành
giám sát, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì yêu cầu người
có thẩm quyền áp dụng ngay các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt vi phạm
và xem xét trách nhiệm của người vi phạm. Điều 115. Giám sát của Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân các
cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: 1. Giám sát việc xử lý
vi phạm hành chính trong phạm vi địa phương; 2. Định kỳ xem xét các
báo cáo của Ủy ban nhân dân cùng cấp về tình
hình xử lý vi phạm hành chính tại địa phương; 3. Khi nhận được khiếu
nại, tố cáo về xử lý vi phạm hành chính, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì
yêu cầu người có thẩm quyền xem xét, giải quyết và báo cáo về việc giải quyết
đó; 4. Trong khi tiến hành
giám sát việc xử lý vi phạm hành chính tại địa phương, nếu phát hiện có vi phạm
pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, cơ quan, tổ chức thì yêu cầu người có thẩm quyền áp dụng ngay các
biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt vi phạm và xem xét trách nhiệm của người
vi phạm. Điều 116. Kiểm tra của các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Bộ trưởng, thủ trưởng
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm: 1. Thường xuyên kiểm
tra việc xử lý vi phạm hành chính của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính thuộc phạm vi quản lý của mình; 2. Giải quyết kịp thời
các khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính trong ngành, lĩnh vực mình
phụ trách theo quy định của pháp luật; 3. Xử lý kỷ luật đối
với người có sai phạm trong xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của
mình; 4. Thực hiện chế độ
báo cáo về tình hình vi phạm hành chính trong ngành; lĩnh vực mình phụ trách
theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Điều 117. Kiểm tra của Ủy ban nhân dân các cấp Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách
nhiệm: 1. Thường xuyên kiểm
tra việc xử lý vi phạm hành chính của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính thuộc phạm vi quản lý của mình; 2. Giải quyết kịp thời
các khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính tại địa phương theo quy
định của pháp luật; 3. Xử lý kỷ luật đối
với người có sai phạm trong xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của
mình; 4. Định kỳ hoặc theo
yêu cầu, báo cáo Hội đồng nhân dân và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng
nhân dân cùng cấp về tình hình xử lý vi phạm hành chính ở địa phương. Chương IX 1. Cá nhân, tổ chức bị
xử phạt vi phạm hành chính hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu
nại về quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp
ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính. 2. Người bị giáo dục
tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa
vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính hoặc người đại diện hợp pháp của họ có
quyền khiếu nại về việc áp dụng biện pháp đó. 3. Mọi công dân có
quyền tố cáo về hành vi trái pháp luật trong xử lý vi phạm hành chính. 4. Thẩm quyền, thủ
tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của
pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Điều 119. Khởi kiện hành chính Việc khởi kiện đối với
quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn
chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính, quyết định giáo dục tại xã, phường,
thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa
bệnh, quản chế hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về thủ tục
giải quyết các vụ án hành chính. Cá nhân, tổ chức có
thành tích trong đấu tranh phòng và chống vi phạm hành chính được khen thưởng
theo chế độ chung của Nhà nước. Nghiêm cấm sử dụng
tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành chính hoặc từ bán tang vật, phương tiện
bị tịch thu để trích thưởng. Điều 121. Xử lý vi phạm đối với người có
thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính Người có thẩm quyền xử
lý vi phạm hành chính mà sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý
không kịp thời, không đúng mức, xử lý vượt thẩm quyền quy định thì tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Điều 122. Xử lý vi phạm đối với người bị
xử lý vi phạm hành chính Người bị xử lý vi phạm
hành chính nếu có hành vi chống người thi hành công vụ, trì hoãn, trốn tránh
việc chấp hành hoặc có những hành vi vi phạm khác thì tùy theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Pháp lệnh này có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2002. Pháp lệnh này thay thế
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 6 tháng 7 năm 1995. Những quy định về xử
lý vi phạm hành chính trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ. Trong trường
hợp luật có quy định khác thì áp dụng theo quy định của luật. Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này./. |
||||
|
||||
