|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||
|
QUYẾT ĐỊNH Về việc ban hành Quy định phương pháp tính và hạch toán
thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC Căn cứ
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 ngày 12/12/1997 và Luật các
Tổ chức tín dụng số 02/3/1997/QHI0 ngày 12/ 12/1997; Căn cứ
nghị định số 15/CP ngày 02/3/1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ; Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Kế toán - Tài chính, QUYẾT ĐỊNH: Điều 1.
Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định phương pháp tính và hạch toán thu,
trả lãi của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng. Điều 2.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2001. Điều 3.
Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Kế toán - Tài chính, Thủ trưởng các đơn vị thuộc
Ngân hàng Nhà nước, Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc (Giám đốc) Tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm
thi hành Quyết định này./. QUY ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP TÍNH VÀ HẠCH TOÁN THU, TRẢ LÃI
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀ CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG (Ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày
17/5/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước). Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Quy
định này quy định về phương pháp tính và hạch toán các khoản thu, trả lãi phát
sinh trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng hoạt động
tại Việt Nam. Trong
Quy định này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Lãi: Là
khoản tiền mà bên vay, huy động vốn hoặc bên thuê trả cho bên cho vay, đầu tư
chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động
hoặc tài sản cho thuê. Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng
vốn và lãi suất. 2. Hạch toán dự thu: Là việc thực hiện tính và hạch toán vào tài khoản thu
nhập theo định ký những khoản lãi sẽ thu được tại một thời điểm nhất định trong
tương lai (lãi phải thu), không phụ thuộc việc tại thời điểm tính và hạch toán,
lãi vẫn chưa được thu. 3.
Hạch toán dự chi: Là việc thực hiện tính và hạch toán dần vào tài khoản
chi phí theo định kỳ những khoản lãi sẽ phải trả tại một thời điểm nhất định
trong tương lai, không phụ thuộc việc tại thời điểm tính và hạch toán, lãi vẫn
chưa được chi trả. 4. Hạch toán thực thu - thực chi: Là việc hạch toán vào tài khoản thu
nhập hoặc chi phí theo số tiền thực tế đã thu vào hoặc đã chi ra. 5. Hạch toán phân bổ: Là việc thực hiện tính và chuyển dần (phân bổ) vào
tài khoản thu nhập hoặc chi phí theo từng định kỳ đối với những khoản lãi đã
thu trước hoặc đã chi trả trước. Điều 3.
Nguyên tắc chung về việc tính thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước và tổ chức
tín dụng đối với khách hàng. 1. Việc tính thu, trả lãi phụ thuộc vào hình thức huy động vốn, hình thức cho vay
hay đầu tư do Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng quy định hoặc thỏa thuận
với khách hàng (nếu có). Có 3
cách tính thu, trả lãi: a)
Tính thu, trả lãi theo định kỳ; b)
Tính thu, trả lãi trước; c)
Tính thu, trả lãi sau. 2. Trong một số trường hợp đặc biệt, việc tính thu, trả lãi
được thực hiện như sau: a)
Nếu khoản tiền vay đã có quyết định khoanh nợ của cấp có thẩm quyền thì không
tính và thu lãi cho vay trong thời gian được khoanh (kể từ ngày được khoanh đến
hết thời hạn khoanh hoặc đến khi khoản tiền vay được xử lý). b)
Nếu khách hàng vay là doanh nghiệp bị phá sản, giải thể, chia, tách, sáp nhập,
hợp nhất hay được giao, bán, khoán kinh doanh theo quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thì việc tính thu, trả lãi được thực hiện theo các quy định pháp
luật hiện hành có liên quan. c)
Nếu khách hàng vay là cá nhân chết hay bị tòa án tuyên bố là mất tích, đã chết
mà không có người thừa kế trả nợ thay thì ngừng tính lãi cho vay kể từ ngày
chính quyền địa phương nơi khách hàng cư trú xác nhận khách hàng vay chết hoặc
kể từ ngày quyết định của tòa án tuyên bố khách hàng vay mất tích, đã chết có
hiệu lực pháp luật. d)
Trong trường hợp khách hàng vay còn số dư nợ quá hạn thì Ngân hàng Nhà nước và
các tổ chức tín dụng sẽ thu gốc trước và tận thu lãi khi khách hàng có tiền. Điều 4.
Ngân hàng Nhà nước thực hiện phương pháp hạch toán thực thu - thực chi đối với
các khoản thu, trả lãi phát sinh trong hoạt động của mình. Điều 5.
Tổ chức tín dụng phải xác định và
chịu trách nhiệm về việc áp dụng phương pháp tính và hạch toán các khoản thu,
trả lãi, phương pháp dự thu; dự chi; thực thu - thực chi; và phân bổ phát sinh
trong hoạt động của tổ chức mình phù hợp với quy định hiện hành của chế độ tài
chính và của các cơ chế về huy động vốn, hoạt động tín dụng và hoạt động nghiệp
vụ khác có liên quan. Điều 6.
Định kỳ tính và hạch toán thu, trả lãi áp dụng đối với tổ chức tín dụng. Tổ
chức tín dụng quy định định kỳ tính và hạch toán thu, trả lãi phù hợp với đặc
thù hoạt động và yêu cầu quản lý của tổ chức mình nhưng phải đảm bảo toàn bộ
các khoản lãi dự thu, dự chi, thực thu - thực chi và phân bổ được tính, hạch
toán đầy đủ, chính xác vào tài khoản thu nhập hoặc chi phí trong tháng cuối
quý, cuối năm tài chính. Điều 7.
Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng phải lập đầy đủ chứng từ hợp lệ, hợp
pháp; tính và hạch toán kịp thời, chính xác các khoản thu, trả lãi và có trách
nhiệm báo nợ, báo có cho khách hàng theo đúng quy định hiện hành. Điều 8. Đối với các khoản thu, trả lãi
bằng ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng thực hiện thu, trả
lãi theo loại ngoại tệ đã huy động, cho vay hoặc đầu tư. Trường hợp thu, trả
lãi bằng ngoại tệ khác hay bằng Đồng Việt Nam thì thực hiện theo thỏa thuận
giữa Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng với khách hàng, phù hợp với quy
định của pháp luật hiện hành về quản lý ngoại hối. Điều 9.
Các yếu tố để tính lãi tiền gửi, tiền vay. Lãi
tiền gửi, tiền vay được tính theo các yếu tố sau: 1. Lãi suất: Căn cứ vào mức lãi suất cụ thể của từng đợt huy động vốn hay loại
cho vay được ghi trong sổ tiền gửi hoặc hợp đồng tín dụng; 2. Số
tiền: Số tiền làm căn cứ để tính lãi là
số tiền thực tế đã huy động của khách hàng hoặc số tiền thực tế đã cho khách
hàng vay: a)
Trường hợp tính lãi theo phương pháp tích số: Số tiền để tính lãi là số ngày thực tế dư Có của tài khoản tiền gửi hoặc số
ngày thực tế dư Nợ
của tài khoản cho
vay của từng ngày trong tháng. Những
ngày nghỉ (ngày lễ, ngày nghỉ hàng tuần) thì lấy số dư cuối của ngày làm việc
trước ngày đó. b)
Trường hợp tính lãi theo món: Căn cứ vào số tiền (gốc) gửi vào hoặc trả nợ. 3. Thời gian: Thời gian để tính lãi tiền gửi, tiền vay có thể là ngày, tháng,
quý hoặc năm và có loại tính theo giờ. Thời
gian chuẩn tính lãi theo năm, tháng, ngày, giờ quy ước như sau: Một
năm có 360 ngày; Một
năm có 12 tháng; Một
tháng có 30 ngày (không phân biệt tháng có 28, 29, 30 hay 31 ngày); Một
ngày là 24 giờ. a)
Nếu ngày thu lãi, trả lãi trùng vào ngày lễ hay ngày nghỉ hàng tuần thì chuyển
sang ngày làm việc tiếp theo. b)
Đối với những khoản tiền gửi hoặc tiền vay có thời hạn từ một ngày trở lên thì
thời gian tính lãi được tính từ ngày gửi tiền hoặc ngày vay mà không tính ngày
rút tiền hoặc ngày trả nợ. Chương II CÁC QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 10.
Phương pháp tính lãi. Có hai phương pháp tính lãi: Tính
theo tích số. Tính
theo món. 1. Tính theo tích số: Phương pháp này áp dụng đối với các khoản vay ngắn
hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn. Việc tính lãi được thực hiện
vào những ngày cuối tháng (ngày cụ thể do từng ngân hàng quy định riêng) và lấy
tổng tích số cả tháng nhân (x) lãi suất tháng, chia (:) cho 30 ngày, theo công
thức:
Trong đó:
2. Tính theo món: Phương pháp này áp dụng đối với hình thức tiền gửi có
kỳ hạn hoặc các khoản vay ngắn, trung, dài hạn theo món đã thỏa thuận khi cho
vay. Khi tính lãi theo món phải căn cứ vào số tiền gửi vào hay số tiền trả nợ,
thời gian gửi tiền hoặc sử dụng tiền vay và mức lãi suất cụ thể áp dụng cho
thời gian gửi tiền hoặc vay tiền. Công thức tính như sau:
Số
tiền lãi =Lãi suất áp dụng cho thời gian gửi hay vay tiền do Ngân hàng Nhà nước
và các tổ chức tín dụng xác định hoặc thỏa thuận với khách hàng theo quy định
hiện hành, gồm có: Lãi suất năm; Lãi suất tháng; Lãi suất ngày; Lãi suất giờ. Điều 11.
Các yếu tố để tính lãi nợ quá hạn: 1.
Thời điểm chuyển sang nợ quá hạn: Tính từ ngày tiếp theo ngày sau ngày đến kỳ
hạn trả nợ (nếu không được gia hạn nợ hoặc không được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ)
ghi trên Hợp đồng tín dụng. 2.
Lãi suất nợ quá hạn: Tính theo quy định hiện hành. 3.
Số tiền nợ quá hạn: Là số dư trên
tài khoản Nợ quá hạn. Điều 12.
Kiểm soát tính thu, trả lãi: 1.
Người kiểm soát (Kế toán trưởng hoặc Trưởng phòng kế toán hoặc người được ủy
quyền) phải đối chiếu và kiểm tra các yếu tố tính lãi: Mức
lãi suất; Số tiền để tính lãi; Thời
gian tính lãi; Phương
pháp tính toán được áp dụng; Tính
chuẩn xác, hợp lệ, hợp pháp của chứng từ thu, trả lãi được lập ra. 2.
Trên chứng từ thu lãi, trả lãi gửi cho khách hàng phải có đầy đủ chữ ký của Kế
toán trưởng hoặc Trưởng phòng kế toán và Tổng Giám đốc (Giám đốc) hoặc người được
ủy quyền. 1.
Hạch toán thu lãi theo phương pháp thực thu - thực chi: Khi thu lãi, Ngân hàng
Nhà nước và các tổ chức tín dụng hạch toán: Nợ
TK thích hợp (tiền mặt, tiền gửi của khách hàng,...). Có
KT thu lãi thích hợp (thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay,...). 2. Hạch toán thu lãi theo phương pháp phân bổ: Khi
thu lãi trước, tổ chức tín dụng hạch toán:
Theo
từng định kỳ, tổ chức tín dụng tính và phân bổ dần vào thu nhập, hạch toán: Nợ
TK các khoản phải trả khác (TK chi tiết nêu trên). Có
TK thu lãi thích hợp (thu lãi tiền
gửi, thu lãi cho vay,...). Nếu
có quy định hoặc thỏa thuận về việc tổ chức tín dụng trả lại cho khách hàng
phần chênh lệch giữa số lãi đã thu trước và số lãi thực tế được hưởng (do khách
hàng trả tiền vay trước thời hạn v.v...), khi phát sinh trường hợp này, tổ chức
tín dụng hạch toán:
3. Hạch toán thu lãi theo phương pháp dự thu: Định
kỳ, tổ chức tín dụng tính số lãi phải thu trong kỳ và hạch toán:
Đến
hạn thu lãi, khi đã thu được tiền thì hạch toán:
4.
Đối với số lãi phải thu đã hạch toán thu nhập nhưng được ghi giảm thu theo chế
độ quy định, xử lý hạch toán:
Đồng
thời hạch toán theo dõi ngoại bảng: Nhập
TK - Lãi chưa thu được - Số lãi chưa thu được. 1.
Hạch toán trả lãi theo phương pháp thực thu - thực chi: Khi trả lãi, Ngân hàng
Nhà nước và các tổ chức tín dụng hạch toán: Nợ TK trả lãi thích hợp (trả lãi
tiền gửi, trả lãi tiền vay,...). Có
TK thích hợp (tiền mặt, tiền gửi
của khách hàng,...). 2.
Hạch toán trả lãi theo phương pháp phân bổ: Khi
chi trả lãi trước, tổ chức tín dụng hạch toán:
Theo từng định kỳ, tổ
chức tín dụng tính và phân bổ dần số lãi đã chi trả trước vào chi phí và hạch
toán: Nợ TK trả lãi thích hợp. Có TK chi phí chờ phân bổ (TK chi tiết
nêu trên). Nếu có quy định hoặc
thỏa thuận về việc tổ chức tín dụng được thu lại phần chênh lệch giữa số lãi đã
chi trả trước và số lãi thực tế phải chi trả (do khách hàng rút tiền gửi trước
kỳ hạn v. v. ) khi phát sinh trường hợp này, tổ chức tín dụng hạch toán:
3.
Hạch toán trả lãi theo phương pháp dự chi Định
kỳ, tổ chức tín dụng tính số lãi phải trả trong kỳ và hạch toán:
Đến hạn trả lãi, khi
đã chi trả cho người hưởng lãi, hạch toán:
4.
Trường hợp số lãi phải trả đã hạch toán chi phí nhưng không còn phải chi trả
nữa hoặc được miễn lãi, giảm lãi theo quy định, tổ chức tín dụng xử lý hạch
toán:
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 15.
Việc sửa đổi, bổ sung Quy định này do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết
định./. |
|||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||
