|
|
||||
|
||||
|
LUẬT Khiếu nại, tố cáo Để việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp
luật, góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992; Luật này quy định về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố
cáo, 1-
Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi
hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ
quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái
pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Cán
bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật của người có thẩm quyền khi
có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của mình. 2-
Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi
trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe
dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,
cơ quan, tổ chức. Trong
Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1-
"Khiếu nại" là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ
luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là
trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. 2-
"Tố cáo" là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của
bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. 3-
"Người khiếu nại" là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công
chức thực hiện quyền khiếu nại. 4-
"Cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại" bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân. 5-
"Người tố cáo" là công dân thực hiện quyền tố cáo. 6-
"Người bị khiếu nại" là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành
chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật bị khiếu nại. 7-
"Người bị tố cáo" là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo. 8-
"Người giải quyết khiếu nại" là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại. 9-
"Người giải quyết tố cáo" là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
giải quyết tố cáo. 10-
"Quyết định hành chính" là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành
chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được
áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể
trong hoạt động quản lý hành chính. 11-
"Hành vi hành chính" là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ,
công vụ theo quy định của pháp luật. 12-
"Quyết định kỷ luật" là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ
quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh
cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc đối với cán bộ, công
chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức. 13-
"Giải quyết khiếu nại" là việc xác minh, kết luận và ra quyết định
giải quyết của người giải quyết khiếu nại. 14-
"Giải quyết tố cáo" là việc xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và
việc quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo. 15-
"Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng" là quyết định có hiệu lực
thi hành và người khiếu nại không được quyền khiếu nại tiếp. 16-
"Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật" bao gồm:
quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng; quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu mà trong thời hạn do pháp luật quy định người khiếu nại đã không khiếu nại
tiếp hoặc không khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án; quyết định giải quyết
khiếu nại lần tiếp theo mà trong thời hạn khiếu nại do luật định người khiếu
nại không khiếu nại tiếp. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kiểm tra, xem xét lại quyết định hành
chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật của mình, nếu thấy trái pháp
luật thì kịp thời sửa chữa, khắc phục để tránh phát sinh khiếu nại. Nhà
nước khuyến khích việc hòa giải các tranh chấp trong nội bộ nhân dân trước khi
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó nhằm hạn chế
khiếu nại phát sinh từ cơ sở. Việc
khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo phải được thực hiện theo quy
định của pháp luật. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm tiếp người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; tiếp nhận và
giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo; xử lý nghiêm minh người
vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra;
bảo đảm cho quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Người
có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách
nhiệm trong việc giải quyết hoặc cố tình giải quyết trái pháp luật phải bị xử
lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp
luật. Cơ
quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; cung cấp thông tin, tài
liệu có liên quan đến việc khiếu nại, tố cáo theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức,
cá nhân đó. Quyết
định giải quyết khiếu nại phải được mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng.
Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật phải được cá nhân, cơ
quan, tổ chức hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành. Người có trách nhiệm thi hành
quyết định giải quyết khiếu nại mà không thi hành phải bị xử lý nghiêm minh. Người
giải quyết tố cáo phải xem xét, kết luận về nội dung tố cáo, nếu có vi phạm thì
phải kịp thời xử lý hoặc yêu cầu người có thẩm quyền xử lý người vi phạm. Người
bị thiệt hại được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường
thiệt hại theo quy định của pháp luật. Quốc
hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Hội
đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thi hành pháp luật về
khiếu nại, tố cáo. Chính
phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức, chỉ đạo việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo; quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo trong phạm vi cả nước. Uỷ
ban nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ
chức, chỉ đạo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; quản lý nhà nước về công tác
giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi địa phương mình. Thanh
tra nhà nước các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
thanh tra việc chấp hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành
chính nhà nước; xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật
này và các quy định khác của pháp luật. Viện
kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật về khiếu nại, tố cáo theo
quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật. Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận động viên
nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo; giám sát việc
thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật này. Tổ
chức thanh tra nhân dân được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp
luật, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
xã, phường, thị trấn, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cơ sở theo quy định của Luật
này. Khiếu
nại, tố cáo do cơ quan báo chí chuyển đến phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền xem xét, giải quyết và thông báo cho cơ quan đã chuyển đơn đến
biết việc giải quyết theo quy định của pháp luật. Cơ
quan báo chí đưa tin về việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo
theo quy định của Luật báo chí sau khi đã xác minh đầy đủ và chịu trách nhiệm
trước pháp luật về việc đưa tin đó. Nghiêm
cấm mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; đe doạ, trả
thù, trù dập người khiếu nại, tố cáo; tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người
tố cáo; cố tình không giải quyết hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo trái pháp
luật; bao che người bị khiếu nại, tố cáo; can thiệp trái pháp luật vào việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo; kích động, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc người khác
khiếu nại, tố cáo sai sự thật; đe dọa, xúc phạm người có trách nhiệm giải quyết
khiếu nại, tố cáo; lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo để xuyên tạc, vu khống, gây
rối trật tự. Chương II Mục 1 1-
Người khiếu nại có các quyền sau đây: a)
Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại; b)
Được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết khiếu nại; nhận quyết
định giải quyết khiếu nại; c)
Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt
hại theo quy định của pháp luật; d)
Được khiếu nại tiếp hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định
của Luật này và pháp luật về tố tụng hành chính; đ)
Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết. 2-
Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây: a)
Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết; b)
Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết
khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung
cấp các thông tin, tài liệu đó; c)
Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp
luật. 1-
Người bị khiếu nại có các quyền sau đây: a)
Đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành
chính bị khiếu nại; b)
Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại của người giải quyết khiếu nại tiếp
theo đối với khiếu nại mà mình đã giải quyết nhưng người khiếu nại tiếp tục
khiếu nại. 2-
Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây: a)
Tiếp nhận, giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành
chính bị khiếu nại; thông báo bằng văn bản về việc thụ lý để giải quyết, gửi
quyết định giải quyết cho người khiếu nại và phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật về việc giải quyết của mình; trong trường hợp khiếu nại do cơ quan, tổ
chức, cá nhân có trách nhiệm chuyển đến thì phải thông báo việc giải quyết hoặc
kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó theo quy định của Luật này; b)
Giải trình về quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại, cung cấp
các thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
yêu cầu; c)
Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp
luật; d)
Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định hành chính, hành vi hành
chính trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật. Mục 2 Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), thủ trưởng cơ
quan thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính
của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp. Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là
cấp huyện) có thẩm quyền: 1-
Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
mình; 2-
Giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan
thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại. Thủ
trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công
chức do mình quản lý trực tiếp. Giám
đốc sở và cấp tương đương thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương có thẩm quyền: 1-
Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; 2-
Giải quyết khiếu nại mà những người quy định tại Điều 21 của Luật này đã giải
quyết nhưng còn có khiếu nại. Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp
tỉnh) có thẩm quyền: 1-
Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
mình; 2-
Giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết nhưng
còn có khiếu nại; quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng; 3-
Giải quyết khiếu nại mà Giám đốc sở hoặc cấp tương đương thuộc Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại mà nội dung thuộc phạm vi quản lý
của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại
cuối cùng. Thủ
trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành
chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp. 1-
Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có
thẩm quyền: a)
Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; b)
Giải quyết khiếu nại mà những người quy định tại Điều 24 của Luật này đã giải
quyết nhưng còn có khiếu nại; c)
Giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần
đầu, khiếu nại mà Giám đốc sở hoặc cấp tương đương thuộc Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại mà nội dung thuộc quyền quản lý nhà nước
của Bộ, ngành mình. 2-
Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy
định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này là quyết định giải quyết khiếu nại
cuối cùng. Tổng
Thanh tra nhà nước có thẩm quyền: 1-
Giải quyết khiếu nại mà thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết nhưng
còn có khiếu nại, trừ khiếu nại đã có quyết định giải quyết của thủ trưởng cơ
quan thuộc Chính phủ là Bộ trưởng; quyết định này là quyết định giải quyết
khiếu nại cuối cùng; 2-
Xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền giải
quyết của Thủ tướng Chính phủ; 3-
Giải quyết khiếu nại do Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền theo quy định của Chính
phủ; 4-
Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối
cùng khi phát hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. 1-
Chánh thanh tra cấp tỉnh, Chánh thanh tra cấp huyện có thẩm quyền: a)
Xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền giải
quyết của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp; b)
Giải quyết khiếu nại do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp uỷ quyền theo quy
định của Chính phủ. 2-
Chánh thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chánh thanh tra
sở và cấp tương đương có trách nhiệm xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải
quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan đó. 1-
Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết cuối cùng đối với: a)
Khiếu nại mà Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đã giải quyết nhưng còn có
khiếu nại, trừ khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng; b)
Khiếu nại đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực
quản lý nhà nước. 2-
Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại
cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. 1-
Thủ tướng Chính phủ giải quyết những tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu
nại giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh. 2-
Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết những tranh chấp về thẩm quyền giải
quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình. Mục 3 Người
khiếu nại lần đầu phải khiếu nại với người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ
quan có cán bộ, công chức có hành vi hành chính mà người khiếu nại có căn cứ
cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của mình. Thời
hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết
được có hành vi hành chính. Trong
trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc
vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền
khiếu nại theo đúng thời hiệu, thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời
hiệu khiếu nại. Khiếu
nại thuộc một trong các trường hợp sau đây không được thụ lý để giải quyết: 1-
Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực
tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại; 2-
Người khiếu nại không có năng lực hành vi đầy đủ mà không có người đại diện hợp
pháp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; 3-
Người đại diện không hợp pháp; 4-
Thời hiệu khiếu nại, thời hạn khiếu nại tiếp đã hết; 5-
Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng; 6-
Việc khiếu nại đã được Tòa án thụ lý để giải quyết hoặc đã có bản án, quyết
định của Toà án. 1-
Trong trường hợp việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại
phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên,
địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại
và yêu cầu của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên. 2-
Trong trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì cán bộ có trách
nhiệm phải hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn hoặc ghi lại nội dung theo
quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký của người khiếu nại. 3-
Trong trường hợp việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người
đại diện phải có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và việc
khiếu nại phải thực hiện theo đúng thủ tục quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này. Trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải
quyết của mình và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 32 của
Luật này, người giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý để giải quyết và thông
báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết; trường hợp không thụ lý để giải
quyết thì phải nêu rõ lý do. Trong
quá trình giải quyết khiếu nại, nếu xét thấy việc thi hành quyết định hành
chính bị khiếu nại sẽ gây hậu quả khó khắc phục, thì người giải quyết khiếu nại
lần đầu phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó. Thời hạn
tạm đình chỉ không vượt quá thời gian còn lại của thời hạn giải quyết lần đầu.
Quyết định tạm đình chỉ phải được gửi cho người khiếu nại, người có quyền, lợi
ích liên quan. Khi xét thấy lý do của việc tạm đình chỉ không còn thì phải hủy
bỏ ngay quyết định tạm đình chỉ đó. Thời
hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải
quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài
hơn, nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết. Ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó
khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 45 ngày, kể từ ngày
thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại
có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết. Khi
cần thiết, người giải quyết khiếu nại lần đầu gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với
người khiếu nại, người bị khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của
người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại. Người
giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn
bản và phải gửi quyết định này cho người khiếu nại, người có quyền, lợi ích
liên quan; khi cần thiết thì công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại
đối với người khiếu nại và người bị khiếu nại. Quyết
định giải quyết khiếu nại lần đầu phải có các nội dung sau đây: 1-
Ngày, tháng, năm ra quyết định; 2-
Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại; 3-
Nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ; 4-
Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại; 5-
Giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính,
chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các vấn đề cụ thể trong
nội dung khiếu nại; 6-
Việc bồi thường cho người bị thiệt hại (nếu có); 7-
Quyền khiếu nại tiếp hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án. Trong
thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 36 của
Luật này mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết
định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý, thì có quyền
khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo hoặc khởi kiện
vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của pháp luật; đối với vùng sâu, vùng
xa, đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn, nhưng không quá
45 ngày. Trong
trường hợp tiếp tục khiếu nại, thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo bản
sao quyết định giải quyết khiếu nại trước đó và các tài liệu liên quan (nếu có)
cho người giải quyết khiếu nại tiếp theo. Trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết
của mình và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 32 của Luật
này, người giải quyết khiếu nại tiếp theo phải thụ lý để giải quyết và thông
báo bằng văn bản cho người khiếu nại, người giải quyết khiếu nại trước đó biết;
trường hợp không thụ lý để giải quyết thì phải nêu rõ lý do. Trong
quá trình giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo, nếu xét thấy việc thi hành
quyết định hành chính bị khiếu nại, quyết định giải quyết khiếu nại trước đó sẽ
gây hậu quả khó khắc phục, thì người giải quyết khiếu nại phải ra quyết định
hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết
định đó. Thời
hạn tạm đình chỉ không vượt quá thời gian còn lại của thời hạn giải quyết.
Quyết định tạm đình chỉ phải được gửi cho người khiếu nại, người giải quyết
khiếu nại trước đó, người có quyền, lợi ích liên quan. Khi xét thấy lý do của
việc tạm đình chỉ không còn thì phải huỷ bỏ ngay quyết định tạm đình chỉ đó. Thời
hạn giải quyết khiếu nại mỗi lần tiếp theo không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý
để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp, thì thời hạn giải quyết khiếu nại có
thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết. Ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó
khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại mỗi lần tiếp theo không quá 60 ngày, kể
từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết
khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý để
giải quyết. 1-
Trong quá trình giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo, người giải quyết khiếu
nại có quyền: a-
Yêu cầu người khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng chứng về nội
dung khiếu nại; b-
Yêu cầu người bị khiếu nại giải trình bằng văn bản về những nội dung bị khiếu
nại; c-
Yêu cầu người giải quyết khiếu nại trước đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan
cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng chứng liên quan đến nội dung khiếu
nại; d-
Triệu tập người bị khiếu nại, người khiếu nại để tổ chức đối thoại khi cần
thiết; đ-
Xác minh tại chỗ; e-
Trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật. 2-
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi nhận được yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này
phải thực hiện đúng các yêu cầu đó. 1-
Người giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo phải ra quyết định giải quyết
khiếu nại bằng văn bản. Quyết định giải quyết khiếu nại phải có các nội dung
sau đây: a)
Ngày, tháng, năm ra quyết định; b)
Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại; c)
Nội dung khiếu nại; d)
Kết quả thẩm tra, xác minh; đ)
Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại; e)
Kết luận về nội dung khiếu nại và việc giải quyết của người giải quyết khiếu
nại trước đó; g)
Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ
quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các
vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại; h)
Việc bồi thường thiệt hại (nếu có); i)
Quyền khiếu nại tiếp của người khiếu nại; nếu là quyết định giải quyết khiếu
nại cuối cùng thì phải ghi rõ. 2-
Quyết định giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo phải được gửi cho người khiếu
nại, người giải quyết khiếu nại trước đó, người có quyền, lợi ích liên quan, người
đã chuyển đơn đến trong thời hạn chậm nhất là 7 ngày, kể từ ngày có quyết định
giải quyết. Người
giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo khi cần thiết thì công bố công khai
quyết định giải quyết đối với người khiếu nại và người bị khiếu nại. Trong
thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 43 của
Luật này mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết
định giải quyết khiếu nại mà người khiếu nại không đồng ý, thì có quyền tiếp
tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo, trừ trường
hợp quyết định đó là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng; đối với vùng
sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn, nhưng
không quá 45 ngày. 1-
Việc giải quyết khiếu nại phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ giải quyết khiếu nại
bao gồm: a)
Đơn khiếu nại hoặc bản ghi lời khiếu nại; b)
Văn bản trả lời của người bị khiếu nại; c)
Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định; d)
Quyết định giải quyết khiếu nại; đ)
Các tài liệu khác có liên quan. 2-
Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và được
lưu giữ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người khiếu nại tiếp tục
khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án thì hồ sơ đó phải được
chuyển cho cơ quan hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi có yêu cầu. Chương III QUYẾT ĐỊNH KỶ LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Khiếu
nại của cán bộ, công chức đối với quyết định kỷ luật áp dụng theo quy định của
pháp luật thì được giải quyết theo quy định của Luật này. Khiếu
nại của cán bộ, công chức là thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội đối với quyết định kỷ luật áp dụng theo Điều lệ thì được giải
quyết theo Điều lệ của tổ chức đó. Thời
hiệu khiếu nại là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định kỷ luật. Trong
trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc
vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền
khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời
hiệu khiếu nại. Việc
khiếu nại phải được thực hiện bằng đơn; trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày,
tháng, năm; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại,
yêu cầu của người khiếu nại và có chữ ký của người khiếu nại. Đơn
khiếu nại phải được gửi đến người đã ra quyết định kỷ luật. Trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, người đã ra quyết định kỷ luật phải
thụ lý để giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết. Thời
hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải
quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo
dài hơn, nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết. 1-
Người giải quyết khiếu nại phải ra quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn
bản. Quyết định giải quyết khiếu nại phải có các nội dung sau đây: a)
Ngày, tháng, năm ra quyết định; b)
Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại; c)
Nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ; d)
Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại; đ)
Giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định kỷ luật bị
khiếu nại; e)
Việc bồi thường cho người bị thiệt hại (nếu có). 2-
Quyết định giải quyết khiếu nại phải được gửi cho người khiếu nại và cơ quan,
tổ chức hữu quan. Trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu
mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền
giải quyết tiếp theo. Trong
thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết, người có thẩm quyền giải
quyết tiếp theo phải xem xét, ra quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản;
đối với vụ việc phức tạp, thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn,
nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết. Quyết định này là
quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng. Cán
bộ, công chức khiếu nại quyết định kỷ luật buộc thôi việc, kể từ ngày nhận được
quyết định giải quyết làn đầu, nếu không đồng ý với quyết định giải quyết đó
thì trong thời hạn quy định tại Điều 39 của Luật này có quyền khiếu nại đến người
có thẩm quyền giải quyết tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án
theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật về tố tụng hành
chính. Căn
cứ vào quy định của Luật này, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan
khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong phạm vi
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quy định trình tự, thủ
tục giải quyết khiếu nại của cán bộ, công chức đối với quyết định kỷ luật. Chương IV Mục 1 1-
Người tố cáo có các quyền sau đây: a)
Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; b)
Yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình; c)
Yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo; d)
Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù. 2-
Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây: a)
Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; b)
Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình; c)
Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật. 1-
Người bị tố cáo có các quyền sau đây: a)
Được thông báo về nội dung tố cáo; b)
Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật; c)
Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi danh dự, được
bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra; d)
Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật. 2-
Người bị tố cáo có các nghĩa vụ sau đây: a)
Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu; b)
Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền; c)
Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây
ra. Mục 2 Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của
cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết. Tố
cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ
chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết. Tố
cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu cơ quan,
tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan,
tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết. Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước
của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Tố
cáo hành vi phạm tội do các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định
của pháp luật tố tụng hình sự. Người
đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền;
trong trường hợp cần thiết thì giao cho cơ quan Thanh tra hoặc cơ quan có thẩm
quyền khác tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận và kiến nghị biện pháp xử lý
tố cáo. Chánh
thanh tra các cấp có thẩm quyền: 1-
Xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm
quyền giải quyết của thủ trưởng cơ quan cùng cấp khi được giao; 2-
Xem xét, kết luận nội dung tố cáo mà thủ trưởng cơ quan cấp dưới trực tiếp của
thủ trưởng cơ quan cùng cấp đã giải quyết nhưng có vi phạm pháp luật; trong trường
hợp kết luận việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đã
giải quyết xem xét, giải quyết lại. Tổng
Thanh tra nhà nước có thẩm quyền: 1-
Xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm
quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ khi được giao; 2-
Xem xét, kết luận về nội dung tố cáo mà Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ,
thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã giải
quyết nhưng có vi phạm pháp luật; trong trường hợp kết luận việc giải quyết tố
cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đã giải quyết xem xét, giải quyết
lại. Thủ
tướng Chính phủ chỉ đạo việc giải quyết những tố cáo có nội dung đặc biệt phức
tạp; quyết định xử lý tố cáo mà Tổng Thanh tra nhà nước đã kết luận, kiến nghị
theo quy định tại điểm 1 Điều 63 của Luật này. Mục 3 Người
tố cáo phải gửi đơn đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Trong đơn tố
cáo phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ người tố cáo; nội dung tố cáo. Trong trường
hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người có trách nhiệm tiếp nhận phải
ghi lại nội dung tố cáo, họ, tên, địa chỉ của người tố cáo, có chữ ký của người
tố cáo. Chậm
nhất là 10 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp
nhận tố cáo phải thụ lý để giải quyết; trong trường hợp tố cáo không thuộc thẩm
quyền giải quyết của mình thì phải chuyển cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
giải quyết và thông báo cho người tố cáo khi họ yêu cầu. Trong
trường hợp cấp thiết, cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo phải báo ngay
cho cơ quan có trách nhiệm để áp dụng biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi vi
phạm pháp luật; áp dụng biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn cho người tố cáo
khi họ yêu cầu. Thời
hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối
với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn, nhưng không
quá 90 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết. Người
giải quyết tố cáo phải ra quyết định về việc tiến hành xác minh và kết luận về
nội dung tố cáo, xác định trách nhiệm của người có hành vi vi phạm, áp dụng
biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền xử lý đối với người vi phạm. Trong
trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc
quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết thì người tố cáo có quyền
tố cáo với cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo;
thời hạn giải quyết được thực hiện theo quy định tại Điều 67 của Luật này. Trong
quá trình xác minh việc tố cáo, người giải quyết tố cáo có các quyền và nghĩa
vụ sau đây: 1-
Bảo đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giải quyết tố cáo; 2-
Yêu cầu người tố cáo cung cấp bằng chứng, tài liệu liên quan đến nội dung tố
cáo; 3-
Yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản về hành vi bị tố cáo; 4-
Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu liên
quan đến nội dung tố cáo; 5-
Trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật. Trong
quá trình tiếp nhận, giải quyết tố cáo, nếu thấy có dấu hiệu phạm tội thì cơ
quan, tổ chức tiếp nhận, giải quyết tố cáo phải chuyển tin báo, chuyển hồ sơ
cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để giải quyết theo quy định của pháp luật
tố tụng hình sự. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tin báo hoặc nhận
được hồ sơ, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản về việc
xử lý cho cơ quan, tổ chức đó biết; trường hợp tố cáo có nội dung phức tạp thì
thời hạn trả lời có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo, giải quyết tố cáo phải giữ bí mật cho
người tố cáo; không được tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và
các thông tin khác có hại cho người tố cáo. 1-
Việc giải quyết tố cáo phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ giải quyết tố cáo bao
gồm: a)
Đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo; b)
Biên bản xác minh, kết quả giám định, tài liệu, chứng cứ thu thập được trong
quá trình giải quyết; c)
Văn bản giải trình của người bị tố cáo; d)
Kết luận về nội dung tố cáo; văn bản kiến nghị biện pháp xử lý; đ)
Quyết định xử lý; e)
Các tài liệu khác có liên quan. 2-
Hồ sơ giải quyết tố cáo phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và được lưu
giữ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền yêu cầu thì hồ sơ được chuyển cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Chương V Thủ
trưởng các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trực tiếp tiếp công dân và tổ chức
việc tiếp công dân đến trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên
quan đến khiếu nại, tố cáo; bố trí cán bộ có phẩm chất tốt, có kiến thức và am
hiểu chính sách, pháp luật, có ý thức trách nhiệm làm công tác tiếp công dân. Việc
tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, đưa đơn khiếu nại, tố cáo được tiến hành
tại nơi tiếp công dân. Cơ
quan nhà nước phải bố trí nơi tiếp công dân thuận tiện, bảo đảm các điều kiện
để công dân đến trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến
khiếu nại, tố cáo được dễ dàng, thuận lợi. Tại
nơi tiếp công dân phải niêm yết lịch tiếp công dân, nội quy tiếp công dân. 1-
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan khác của Nhà nước có trách
nhiệm trực tiếp tiếp công dân theo quy định sau đây: a)
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, mỗi tuần ít nhất một ngày; b)
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, mỗi tháng ít nhất hai ngày; c)
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, mỗi tháng ít nhất một ngày; d)
Thủ trưởng các cơ quan khác của Nhà nước, mỗi tháng ít nhất một ngày. 2-
Thanh tra nhà nước các cấp, các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm tổ
chức tiếp công dân thường xuyên theo quy định của pháp luật. Người
tiếp công dân có trách nhiệm: 1-
Tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố
cáo; 2-
Hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; 3-
Giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo khi người tố cáo yêu
cầu. Người
đến khiếu nại, tố cáo tại nơi tiếp công dân có các quyền và nghĩa vụ sau đây: 1-
Xuất trình giấy tờ tùy thân, tuân thủ nội quy nơi tiếp công dân và thực hiện
theo sự hướng dẫn của người tiếp công dân; 2-
Trình bày trung thực sự việc, cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung khiếu
nại, tố cáo của mình và ký xác nhận những nội dung đã trình bày; 3-
Được hướng dẫn, giải thích về việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; 4-
Cử đại diện để trình bày với người tiếp công dân trong trường hợp có nhiều người
khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung; 5-
Được khiếu nại, tố cáo về những hành vi sai trái, cản trở, gây phiền hà, sách
nhiễu của người tiếp công dân. Nghiêm
cấm việc cản trở, gây phiền hà, sách nhiễu đối với công dân đến khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh. Nghiêm
cấm việc gây rối trật tự ở nơi tiếp công dân, vu cáo, xúc phạm uy tín, danh dự
của cơ quan nhà nước, người thi hành nhiệm vụ, công vụ. Chương VI Nội
dung quản lý công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo bao gồm: 1-
Ban hành các văn bản pháp luật, quy chế, điều lệ giải quyết khiếu nại, tố cáo; 2-
Tuyên truyền, hướng dẫn và tổ chức việc thực hiện các quy định về khiếu nại, tố
cáo; 3-
Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về khiếu nại, tố cáo; 4-
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo,
công tác tiếp công dân; 5-
Tổng hợp tình hình khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; 6-
Tổng kết kinh nghiệm về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Chính
phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong
các cơ quan hành chính nhà nước trong phạm vi cả nước. Thanh
tra nhà nước chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi thẩm quyền của Chính phủ. Các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực
hiện quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi
quản lý của mình; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, tổ chức do mình
quản lý trong việc thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo; thực hiện chế độ
báo cáo về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Chính phủ. Thanh
tra nhà nước các cấp giúp thủ trưởng cơ quan cùng cấp quản lý công tác giải
quyết khiếu nại, tố cáo. 1-
Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan khác của
Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, trong
phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quản lý công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo; định kỳ thông báo với Chính phủ về công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo mà việc giải quyết đó được thực hiện theo quy định của pháp luật
trong phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức mình. 2-
Toà án nhân dân địa phương, Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các cơ quan của
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương, trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình quản lý công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo; định kỳ thông báo với Uỷ ban nhân dân cùng cấp về công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo mà việc giải quyết đó được thực hiện theo quy định của pháp
luật trong phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức mình. Khi
cần thiết, Thủ tướng Chính phủ làm việc với Chánh án Toà án nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để phối hợp trong công tác giải
quyết khiếu nại, tố cáo. Chính
phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao định kỳ báo cáo
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước về công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Tổng
Thanh tra nhà nước định kỳ báo cáo Chính phủ về công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo; kiến nghị các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo. Khi
cần thiết, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân làm việc với Chánh án Toà án nhân dân, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để phối hợp trong công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Uỷ
ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân định kỳ báo cáo Hội đồng
nhân dân cùng cấp về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi địa phương
mình. Chương VII Mục 1 1-
Quốc hội giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo; hàng năm xem
xét báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại kỳ họp cuối năm. 2-
Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố
cáo; xem xét báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; cử đoàn giám sát việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo; khi phát hiện có vi phạm pháp luật thì yêu cầu người
có thẩm quyền chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi
phạm. Đối với khiếu nại, tố cáo gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì giao cho
Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội hoặc người có thẩm quyền nghiên cứu,
xem xét, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì thực hiện theo quy định tại
điểm 2 Điều 86 của Luật này. Trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội
có trách nhiệm: 1-
Tổ chức đoàn giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân hữu quan báo cáo về tình hình khiếu nại, tố cáo và giải quyết
khiếu nại, tố cáo; 2-
Khi nhận được khiếu nại, tố cáo thì nghiên cứu, nếu phát hiện có vi phạm pháp
luật thì yêu cầu người có thẩm quyền xem xét, giải quyết; nếu không đồng ý với
kết quả giải quyết đó thì yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực
tiếp xem xét, giải quyết; cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm trả lời yêu
cầu đó trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết; 3-
Khi phát hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì yêu cầu người có
thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách
nhiệm, xử lý đối với người vi phạm. 1-
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội
đồng nhân dân có trách nhiệm: a)
Khi nhận được khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến
người có thẩm quyền và đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo;
đồng thời báo cho người khiếu nại, tố cáo biết việc chuyển đơn đó; b)
Khi phát hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị với người
có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt vi phạm, xem xét
trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm. 2-
Người có thẩm quyền khi nhận được khiếu nại, tố cáo do đại biểu Quốc hội, đại
biểu Hội đồng nhân dân chuyển đến phải xem xét, giải quyết và trong thời hạn 7
ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết phải thông báo bằng văn bản cho đại
biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đã chuyển đơn đến biết kết quả giải
quyết. Trong
trường hợp xét thấy việc giải quyết không thoả đáng, đại biểu Quốc hội có quyền
gặp thủ trưởng cơ quan hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại. Khi cần
thiết, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu thủ trưởng cơ quan hữu quan cấp trên
của cơ quan đó giải quyết. Đoàn
đại biểu Quốc hội tổ chức để đại biểu Quốc hội trong đoàn tiếp công dân đến
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo, tiếp
nhận và chuyển khiếu nại, tố cáo đến người có thẩm quyền và đôn đốc, theo dõi
việc giải quyết đó. Người giải quyết khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm xem xét,
giải quyết và thông báo kết quả giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 87
của Luật này. Trong
trường hợp cần thiết, Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức đoàn giám sát việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo; khi phát hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến
lợí ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
thì kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để kịp thời chấm
dứt vi phạm. 1-
Hội đồng nhân dân các cấp có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a)
Xem xét báo cáo của Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân
cùng cấp về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tại kỳ họp; b)
Cử đoàn giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa phương mình; khi phát
hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì yêu cầu người có thẩm quyền áp
dụng biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt vi phạm và xem xét trách nhiệm,
xử lý đối với người vi phạm. 2-
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Chủ tịch Hội đồng nhân dân
cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm kiểm tra và
xem xét tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo; khi nhận được khiếu nại, tố cáo
có trách nhiệm nghiên cứu; nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người
có thẩm quyền xem xét, giải quyết; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết đó
thì kiến nghị người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải
quyết; cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị đó trong thời
hạn 7 ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết. 3-
Các ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện giúp Hội đồng nhân dân cùng
cấp giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan của
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội,
đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố
cáo. Mục 2 CÁC TỔ CHỨC THÀNH VIÊN CỦA
MẶT TRẬN, CỦA TỔ CHỨC THANH TRA NHÂN DÂN 1-
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách
nhiệm tổ chức việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
liên quan đến khiếu nại, tố cáo; khi nhận được khiếu nại, tố cáo thì nghiên
cứu, chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo. 2-
Khiếu nại, tố cáo do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên
của Mặt trận chuyển đến phải được người giải quyết khiếu nại, tố cáo xem xét,
giải quyết và trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết phải
thông báo bằng văn bản cho tổ chức đã chuyển đơn đến biết kết quả giải quyết;
nếu không đồng ý với kết quả giải quyết đó thì tổ chức đã chuyển đơn có quyền
kiến nghị cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết; cơ quan, tổ
chức hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị đó trong thời hạn 7 ngày, kể từ
ngày có quyết định giải quyết. Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao định kỳ thông báo
đến Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Uỷ ban nhân dân, Tòa án nhân
dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp định kỳ thông báo đến Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc cùng cấp về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. 1-
Tổ chức Thanh tra nhân dân, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tiếp
nhận thông tin, phản ánh của nhân dân về việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết
khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị cơ sở; kịp thời phát
hiện những hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo; kiến nghị Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cơ sở giải quyết kịp thời,
đúng pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giám sát việc giải quyết đó. 2-
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cơ sở có trách
nhiệm thông báo cho tổ chức Thanh tra nhân dân biết việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và xem xét, giải quyết kiến nghị
của tổ chức Thanh tra nhân dân. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện để Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ chức Thanh tra nhân
dân giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Chương VIII Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo,
người tố cáo có công trong việc ngăn ngừa thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá
nhân thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật. Người
giải quyết khiếu nại, tố cáo nếu có một trong các hành vi sau đây thì tuỳ theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật: 1-
Thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; 2-
Gây phiền hà, sách nhiễu, cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; 3-
Cố tình trì hoãn việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; 4-
Làm sai lệch hồ sơ vụ việc trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; 5-
Ra quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo trái pháp luật; 6-
Không kịp thời áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt hành vi vi phạm pháp
luật; 7-
Đe dọa, trù dập, trả thù người khiếu nại, tố cáo; bao che cho người bị khiếu
nại, tố cáo; 8-
Không thực hiện các yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức và đại biểu Quốc
hội, đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại các điều 15, 85, 86, 87, 88, 89,
91 và 93 của Luật này; 9-
Vi phạm các quy định khác của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Người
tiếp công dân nếu có một trong các hành vi sau đây thì tuỳ theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự: 1-
Thiếu trách nhiệm trong việc tiếp công dân; 2-
Gây phiền hà, sách nhiễu hoặc cản trở người đến trình bày khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh; 3-
Vi phạm nội quy, quy chế tiếp công dân; 4-
Không kịp thời xử lý hoặc làm sai lệch các thông tin, tài liệu do người khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cung cấp; 5-
Vi phạm các quy định khác của pháp luật về việc tiếp công dân. Người
có trách nhiệm chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố
cáo nếu không chấp hành thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ
luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt
hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Người
đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền mà không áp dụng biện pháp cần thiết để
xử lý kịp thời đối với cá nhân vi phạm quy định tại Điều 96, Điều 97 và Điều 98
của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Người
nào có một trong các hành vi sau đây thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà
bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu
gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật: 1-
Kích động, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc người khác khiếu nại, tố cáo sai sự thật; 2-
Lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo để xuyên tạc, vu khống, gây rối trật tự, gây
thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân; 3-
Tố cáo sai sự thật; 4-
Đe dọa, trả thù, xúc phạm người khiếu nại, tố cáo, người có trách nhiệm giải
quyết khiếu nại, tố cáo; 5-
Vi phạm các quy định khác của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Việc
khiếu nại và giải quyết khiếu nại của cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài,
việc tố cáo và giải quyết tố cáo của cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được áp
dụng theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác. Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này; căn cứ vào Luật này, các
cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hướng
dẫn việc thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong phạm vi cơ quan, tổ
chức mình. Luật
này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1999. Pháp
lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 7 tháng 5 năm 1991 hết hiệu lực, kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Những
quy định trước đây trái Luật này đều bãi bỏ. Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa X, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998. |
||||
|
||||
