|
|
||||
|
||||
|
LUẬT Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Để nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác xây dựng pháp luật, kịp thời thể chế hoá đường lối, chính sách của
Đảng, đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; Luật này quy định thẩm quyền,
thủ tục và trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều
1. Văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật là
văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật
định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật bao gồm: 1- Văn bản do Quốc hội ban
hành: Hiến pháp, luật, nghị quyết; Văn bản do Uỷ ban thường vụ
Quốc hội ban hành: pháp lệnh, nghị quyết; 2- Văn bản do các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khác ở trung ương ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật
của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội: a) Lệnh, quyết định của Chủ
tịch nước; b) Nghị quyết, nghị định của
Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; c) Quyết định, chỉ thị, thông tư
của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; d) Nghị quyết của Hội đồng Thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao; quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đ) Nghị quyết, thông tư liên
tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền với tổ chức chính trị - xã hội; 3- Văn bản do Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc
hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; văn
bản do Uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cùng cấp: a) Nghị quyết của Hội đồng nhân
dân; b) Quyết định, chỉ thị của Uỷ
ban nhân dân. Điều
2. Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật Hiến pháp là luật cơ bản của
Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Văn bản quy phạm pháp luật được
ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực
pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật do
các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Văn bản quy phạm pháp luật trái
với Hiến pháp, trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên phải được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ, đình chỉ việc thi hành. Điều
3. Tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật 1- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước,
đơn vị vũ trang nhân dân và công dân có quyền tham gia góp ý kiến xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật. 2- Trong quá trình xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật, căn cứ vào tính chất và nội dung của dự án, cơ quan, tổ
chức hữu quan tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân nói tại khoản 1 Điều
này tham gia góp ý kiến và tiếp thụ ý kiến đóng góp để xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật. Điều
4. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật quy
định hiệu lực về thời gian, không gian và đối tượng áp dụng. Điều
5. Ngôn ngữ của văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật được
thể hiện bằng tiếng Việt. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản
phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật
ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải được định nghĩa trong văn
bản. Văn bản quy phạm pháp luật có
thể được dịch ra tiếng các dân tộc thiểu số. Điều
6. Số và ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật phải
được đánh số thứ tự cùng với năm ban hành và ký hiệu cho từng loại văn bản. Điều
7. Văn bản quy định chi tiết thi hành 1- Luật, pháp lệnh và các văn
bản quy phạm pháp luật khác phải được quy định cụ thể để khi các văn bản đó có
hiệu lực thì được thi hành ngay. Trong trường hợp luật, pháp
lệnh có điều, khoản cần phải được quy định chi tiết bằng văn bản khác, thì ngay
tại điều, khoản đó, phải xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và
thời hạn ban hành văn bản. 2- Văn bản quy định chi tiết
thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh để trình cơ quan
nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực. Điều
8. Rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật Cơ quan nhà nước trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thường xuyên rà soát, định kỳ hệ
thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật; nếu phát hiện có quy định trái pháp
luật, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển của
đất nước, thì tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp
thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành. Cơ quan, tổ chức và công dân có
quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sửa đổi, bổ sung,
thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Điều
9. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc
thi hành văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật chỉ
được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng một văn bản quy phạm pháp luật
do chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi
hành, bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay
thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn
bản, điều, khoản của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình
chỉ việc thi hành. Văn bản quy phạm pháp luật khi
chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
hoặc đình chỉ việc thi hành, thì vẫn còn nguyên hiệu lực và phải được nghiêm
chỉnh thi hành. Điều
10. Đăng Công báo, yết thị và đưa tin Văn bản quy phạm pháp luật phải
được đăng Công báo hoặc yết thị, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại
chúng, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước. Văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước ở trung ương phải được đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày công bố
hoặc ký ban hành. Chính phủ thống nhất quản lý
Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Văn bản quy phạm pháp luật của
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân phải được yết thị tại trụ sở của cơ quan ban
hành và những địa điểm khác do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân quyết định. Điều
11. Gửi, lưu trữ văn bản quy phạm pháp luật 1- Văn bản quy phạm pháp luật
phải được gửi kịp thời đến cơ quan nhà nước cấp trên trực tiếp và đến các cơ
quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hữu quan. 2- Bản gốc của văn bản quy phạm
pháp luật phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ. Điều
12. Dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài Văn bản quy phạm pháp luật có
thể được dịch ra tiếng nước ngoài. Việc dịch văn bản quy phạm pháp
luật ra tiếng nước ngoài do Chính phủ quy định. CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CÓ
THẨM QUYỀN BAN HÀNH VÀ Điều
13. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm
pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội 1- Quốc hội là cơ quan duy nhất
có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội làm Hiến pháp và sửa
đổi Hiến pháp. Việc soạn thảo, thông qua, công
bố Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và thủ tục, trình tự giải thích Hiến pháp do
Quốc hội quy định. 2- Căn cứ vào Hiến pháp, Quốc
hội ban hành luật, nghị quyết. 3- Căn cứ vào Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, nghị
quyết. Điều
14. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm
pháp luật của Chủ tịch nước Căn cứ vào Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định. Điều
15. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm
pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Căn cứ vào Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Chính phủ ban hành nghị quyết, nghị định. Căn cứ vào Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ ban hành quyết định, chỉ thị. Điều
16. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm
pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ Căn cứ vào Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết
định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ,
Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư. Điều
17. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm
pháp luật của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Căn cứ vào Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
ban hành nghị quyết, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quyết
định, chỉ thị, thông tư. Điều
18. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên
tịch Căn cứ vào Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết
định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan, tổ chức sau đây có thể phối
hợp ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch để hướng dẫn thi hành văn bản
quy phạm pháp luật có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình: 1- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ; 2- Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao; 3- Toà án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; 4- Cơ quan nhà nước có thẩm
quyền với tổ chức chính trị - xã hội trong trường hợp pháp luật có quy định việc
tổ chức chính trị - xã hội tham gia quản lý nhà nước. Điều
19. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Căn cứ vào Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Hội
đồng nhân dân ban hành nghị quyết. Căn cứ vào Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, Uỷ ban nhân dân ban hành quyết định, chỉ
thị. Thẩm quyền, thủ tục và trình tự
ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân
dân do pháp luật quy định. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP
LUẬT CỦA QUỐC HỘI, MỤC 1 NỘI DUNG VĂN BẢN QUY
PHẠM PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI, Điều
20. Luật, nghị quyết của Quốc hội 1- Luật quy định các vấn đề cơ
bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. 2- Nghị quyết của Quốc hội được
ban hành để quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chính sách tài
chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, quốc phòng,
an ninh, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, điều chỉnh
ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, phê chuẩn điều ước
quốc tế, quyết định chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và quyết định các
vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Điều
21. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 1- Pháp lệnh quy định về những
vấn đề được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét,
quyết định ban hành thành luật. 2- Nghị quyết của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội được ban hành để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, giám sát
việc thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân
dân, quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên
cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa phương và quyết
định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. MỤC 2 Điều
22. Lập chương trình, thông qua chương trình 1- Chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý
nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của công dân. 2- Cơ quan, tổ chức, đại biểu
Quốc hội có quyền trình dự án luật được quy định tại Điều 87 của Hiến pháp năm
1992 gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và đồng
thời gửi đến Chính phủ, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, xác
định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản, các điều kiện cần thiết cho
việc soạn thảo văn bản; kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội cũng
được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ. Chính phủ lập dự kiến chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của mình trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội và phát biểu ý kiến về
đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội,
kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội. 3- Uỷ ban pháp luật của Quốc
hội chủ trì và phối hợp với Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội
thẩm tra dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ, đề nghị
xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội, kiến
nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội. 4- Căn cứ vào dự kiến chương
trình của Chính phủ, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ
chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội, ý
kiến thẩm tra của Uỷ ban pháp luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập dự án Chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội quyết định. 5- Chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh bao gồm chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ Quốc hội
và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm. 6- Quốc hội quyết định chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh cả nhiệm kỳ trong năm đầu tiên của mỗi khoá Quốc
hội; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm tại kỳ họp cuối
năm của năm trước. Điều
23. Điều chỉnh chương trình Khi xét thấy cần thiết, Quốc
hội quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc
hội khi kiến nghị về việc điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh phải
có tờ trình nêu rõ lý do việc điều chỉnh. Thủ tục, trình tự điều chỉnh chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh được thực hiện theo quy định tại Điều 22 của
Luật này. Điều
24. Bảo đảm thực hiện chương trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ
đạo việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc
hội trình dự án luật, dự án pháp lệnh đã được quyết định trong chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm tổ chức việc soạn thảo, bảo đảm chất lượng
và thời hạn trình dự án. MỤC 3 Điều
25. Thành lập Ban soạn thảo 1- Cơ quan, tổ chức trình dự án
luật, dự án pháp lệnh thành lập Ban soạn thảo. Trong trường hợp dự án luật, dự
án pháp lệnh có nội dung liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, thì Uỷ ban
thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo gồm đại diện có thẩm quyền của cơ quan,
tổ chức hữu quan. Đối với dự án luật do Uỷ ban thường
vụ Quốc hội trình thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo. Đối
với dự án luật, dự án pháp lệnh do Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội,
đại biểu Quốc hội trình, thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo
theo đề nghị của cơ quan, đại biểu Quốc hội trình dự án. 2- Việc soạn thảo dự án luật,
dự án pháp lệnh do Ban soạn thảo đảm nhiệm. Ban soạn thảo chịu trách nhiệm
trước cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án về tiến độ và chất lượng
dự án. 3- Cơ quan, tổ chức hữu quan có
thành viên trong Ban soạn thảo có trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về những
nội dung liên quan đến lĩnh vực công tác của cơ quan, tổ chức hữu quan đó và
chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Điều
26. Soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh Trong việc soạn thảo dự án
luật, dự án pháp lệnh, Ban soạn thảo tiến hành các công việc sau đây: 1- Tổng kết tình hình thi hành
pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến
dự án; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung
chính của dự án; 2- Tổ chức nghiên cứu thông
tin, tư liệu có liên quan đến dự án; 3- Chuẩn bị đề cương, biên soạn
và chỉnh lý dự án; 4- Tổ chức lấy ý kiến cơ quan,
tổ chức, cá nhân hữu quan bằng các hình thức thích hợp tuỳ theo tính chất của
từng dự án; 5- Chuẩn bị tờ trình và tài
liệu liên quan đến dự án. Tờ trình nêu rõ sự cần thiết phải ban hành, mục đích,
yêu cầu, phạm vi, đối tượng và nội dung chính của dự án, những vấn đề cần xin ý
kiến chỉ đạo và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; 6- Phối hợp với cơ quan, tổ
chức, cá nhân hữu quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết, hướng
dẫn thi hành; 7- Trong việc soạn thảo dự án
luật, dự án pháp lệnh, phải tính đến điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Điều
27. Bố cục của luật, pháp lệnh 1- Luật, pháp lệnh phải có tên,
căn cứ pháp lý để ban hành. Tuỳ theo nội dung, luật, pháp lệnh có thể có lời
nói đầu, được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm; phần, chương,
mục phải có tiêu đề. 2- Luật, pháp lệnh được ban
hành phải xác định các văn bản, các điều, khoản của văn bản bị bãi bỏ. Điều
28. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đại biểu
Quốc hội trình dự án luật, dự án pháp lệnh 1- Cơ quan, tổ chức trình dự án
luật, dự án pháp lệnh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Chỉ đạo Ban soạn thảo và thường
xuyên cho ý kiến về việc soạn thảo dự án; b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân hữu quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến dự án. c) Mời chuyên gia tham gia xây
dựng dự án; d) Xem xét, quyết định việc
trình dự án luật ra Quốc hội, trình dự án pháp lệnh ra Uỷ ban thường vụ Quốc
hội. Trong trường hợp chưa trình được dự án luật, dự án pháp lệnh theo chương
trình, thì phải kịp thời báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội và nêu rõ lý do; 2- Đại biểu Quốc hội trình dự
án luật, dự án pháp lệnh có nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b và d
khoản 1 Điều này. Văn phòng Quốc hội bảo đảm điều kiện cần thiết cho Ban soạn
thảo dự án luật, dự án pháp lệnh do đại biểu Quốc hội trình. Điều
29. Trách nhiệm của Chính phủ đối với dự án luật, dự án
pháp lệnh 1- Chính phủ có trách nhiệm xem
xét, thảo luận tập thể những dự án luật, dự án pháp lệnh do Chính phủ trình,
biểu quyết theo đa số để quyết định việc trình dự án luật ra Quốc hội, trình dự
án pháp lệnh ra Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Đối với những dự án luật, dự án pháp
lệnh do cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình, thì Chính phủ có trách
nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản. 2- Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản về dự án luật,
dự án pháp lệnh mà nội dung của dự án liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm
vụ quản lý ngành, lĩnh vực của mình. 3- Bộ Tư pháp có trách nhiệm
thẩm định các dự án luật, dự án pháp lệnh để Chính phủ xem xét trước khi quyết
định trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc để Chính phủ tham gia ý
kiến đối với những dự án do cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình Quốc
hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Điều
30. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
tham gia ý kiến vào dự án luật, dự án pháp lệnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên có quyền tham gia ý kiến vào dự án luật, dự án pháp
lệnh. Đối với dự án luật, dự án pháp
lệnh có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên; quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân, về tổ chức bộ máy nhà nước, thì cơ quan soạn thảo có trách nhiệm gửi dự án
luật, dự án pháp lệnh đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
để lấy ý kiến. Điều
31. Soạn thảo dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự thảo
nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Dự thảo nghị quyết của Quốc
hội, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội do Hội đồng dân tộc, các
Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
phân công soạn thảo. Dự thảo nghị quyết được gửi để lấy ý kiến các cơ quan, tổ
chức, cá nhân hữu quan. MỤC 4 THẨM TRA DỰ ÁN LUẬT, Điều
32. Việc thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của
Quốc hội 1- Dự án luật, dự thảo nghị
quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được Hội đồng
dân tộc, các Uỷ ban hữu quan của Quốc hội thẩm tra (gọi chung là cơ quan thẩm
tra). Trong trường hợp Uỷ ban thường
vụ Quốc hội trình dự án luật thì Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra hoặc
thành lập Uỷ ban lâm thời để thẩm tra dự án luật đó; đối với dự án luật, dự án
pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội
trình, thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra. 2- Cơ quan thẩm tra có quyền
yêu cầu cơ quan soạn thảo báo cáo về những vấn đề thuộc nội dung của dự án; tự
mình hoặc cùng cơ quan soạn thảo tổ chức khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc
nội dung của dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. Cơ quan, tổ chức,
cá nhân được cơ quan thẩm tra yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài
liệu phục vụ cho việc thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. 3- Đối với dự án luật, dự án
pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban khác của Quốc hội
chủ trì thẩm tra, thì Uỷ ban pháp luật của Quốc hội tham gia thẩm tra nhằm bảo
đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Điều
33. Thời hạn gửi dự án luật, dự án pháp lệnh và dự thảo
nghị quyết để thẩm tra Chậm nhất là ba mươi ngày, trước
ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội hoặc chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày bắt
đầu phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội
trình dự án phải gửi tờ trình, dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết
tới cơ quan thẩm tra để tiến hành thẩm tra. Cơ quan thẩm tra tiến hành thẩm
tra về tất cả các mặt của dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nhưng
tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau đây : 1- Sự cần thiết ban hành luật,
pháp lệnh, nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh; 2- Sự phù hợp của nội dung dự
án với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp của
dự án và tính thống nhất của văn bản với hệ thống pháp luật; 3- Việc tuân thủ thủ tục và
trình tự soạn thảo; 4- Tính khả thi của dự án. Dự án luật, dự án pháp lệnh, dự
thảo nghị quyết có thể được thẩm tra một lần hoặc nhiều lần. Đối với dự án luật, dự án pháp
lệnh, dự thảo nghị quyết trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội để xin ý kiến, thì
phải được cơ quan thẩm tra tiến hành thẩm tra sơ bộ. Đối với dự án luật, dự thảo
nghị quyết trình Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình Uỷ ban thường
vụ Quốc hội xem xét, quyết định thông qua, thì phải được cơ quan thẩm tra tiến
hành thẩm tra chính thức. Khi thẩm tra chính thức, cơ
quan thẩm tra phải tiến hành phiên họp toàn thể. Trong trường hợp dự án luật, dự
án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết được giao cho nhiều cơ quan phối hợp thẩm tra,
thì cơ quan được giao chủ trì thẩm tra có trách nhiệm tổ chức phiên họp liên
tịch để tiến hành thẩm tra. Báo cáo thẩm tra phải phản ánh
đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan thẩm tra. MỤC 5 UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC
HỘI XEM XÉT, CHO Ý KIẾN Điều
36. Thời hạn gửi dự án luật, dự thảo nghị quyết để Uỷ ban
thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến Chậm nhất là hai mươi ngày, trước
ngày bắt đầu phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu
Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết phải gửi tờ trình, dự án và các
tài liệu có liên quan đến cơ quan thẩm tra để tiến hành thẩm tra sơ bộ. Chậm nhất là bảy ngày, trước
ngày bắt đầu phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu
Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết phải gửi tờ trình, dự án và tài
liệu có liên quan; cơ quan thẩm tra phải gửi báo cáo thẩm tra về dự án luật, dự
thảo nghị quyết đó đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Điều
37. Trình tự xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo
nghị quyết 1- Tuỳ theo tính chất và nội
dung của dự án luật, dự thảo nghị quyết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể xem
xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết một lần hoặc nhiều lần. 2- Uỷ ban thường vụ Quốc hội
xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết theo trình tự sau đây: a) Đại diện cơ quan, tổ chức,
đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết thuyết trình về dự án và
những vấn đề thuộc nội dung dự án luật, dự thảo nghị quyết cần xin ý kiến; b) Đại diện cơ quan thẩm tra
trình báo cáo thẩm tra; c) Đại diện cơ quan, tổ chức,
cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến; d) Các thành viên Uỷ ban thường
vụ Quốc hội thảo luận; đ) Chủ toạ phiên họp kết luận. Điều
38. Việc tiếp thu và chỉnh lý dự án luật, dự thảo nghị
quyết theo ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Trên cơ sở ý kiến của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị
quyết có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến và tổ chức việc chỉnh lý dự
án. Trong trường hợp cơ quan, tổ
chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết có ý kiến khác với
ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.
LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN VỀ
DỰ ÁN LUẬT, DỰ ÁN PHÁP LỆNH Điều
39. Quyết định việc lấy ý kiến nhân dân về dự án luật, dự
án pháp lệnh 1- Căn cứ vào tính chất và nội
dung của dự án luật, dự án pháp lệnh, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết
định việc lấy ý kiến nhân dân về dự án luật, dự án pháp lệnh. 2- Nội dung, phạm vi, thể thức
và thời gian lấy ý kiến nhân dân về dự án luật, dự án pháp lệnh do Uỷ ban thường
vụ Quốc hội quyết định. Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ
đạo việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân và việc tiếp thu ý kiến nhân dân để chỉnh
lý dự án. Điều
40. Tham gia góp ý kiến vào dự án luật, dự án pháp lệnh 1- Công dân góp ý kiến về dự án
luật, dự án pháp lệnh thông qua cơ quan, tổ chức của mình, trực tiếp hoặc gửi
thư góp ý tới Văn phòng Quốc hội, cơ quan, tổ chức soạn thảo dự án hoặc thông
qua các phương tiện thông tin đại chúng. 2- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân có trách nhiệm tổ chức, tạo điều kiện để công dân thuộc tổ
chức, cơ quan, đơn vị mình tham gia ý kiến vào dự án luật, dự án pháp lệnh. Điều
41. Tập hợp, tiếp thu ý kiến nhân dân để chỉnh lý dự án
luật, dự án pháp lệnh Ý kiến
của nhân dân về dự án luật, dự án pháp lệnh phải được tập hợp, nghiên cứu, tiếp
thụ để chỉnh lý dự án. Văn phòng Quốc hội có trách
nhiệm tập hợp đầy đủ ý kiến của nhân dân. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc
hội trình dự án phối hợp với cơ quan thẩm tra nghiên cứu, tiếp thu ý kiến nhân
dân, chỉnh lý dự án và báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội. MỤC 7 LẤY Ý KIẾN ĐẠI BIỂU
QUỐC HỘI, ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Điều
42. Đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia ý
kiến về dự án luật Trong quá trình soạn thảo, nếu
được Uỷ ban thường vụ Quốc hội đồng ý thì dự án luật được gửi lấy ý kiến đại
biểu Quốc hội. Chậm nhất là hai mươi ngày, trước
ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, dự án luật phải được gửi đến đại biểu Quốc hội. Đoàn đại biểu Quốc hội có trách
nhiệm tổ chức thảo luận dự án luật tại địa phương và gửi biên bản thảo luận về
Văn phòng Quốc hội chậm nhất là bảy ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp. Điều
43. Đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia ý
kiến về dự án pháp lệnh Khi xét thấy cần thiết, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội gửi dự án pháp lệnh để lấy ý kiến đại biểu Quốc hội, Đoàn
đại biểu Quốc hội chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Uỷ
ban thường vụ Quốc hội. Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức
thảo luận dự án pháp lệnh tại địa phương và gửi biên bản thảo luận về Văn phòng
Quốc hội chậm nhất là bảy ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Uỷ ban thường vụ
Quốc hội. Điều
44. Tiếp thu và chỉnh lý dự án theo ý kiến của đại biểu
Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội Văn phòng Quốc hội có trách
nhiệm tập hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội về dự án
luật, dự án pháp lệnh. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án phối hợp
với cơ quan thẩm tra nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, Đoàn
đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự án. MỤC 8 THÔNG QUA DỰ ÁN LUẬT,
DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT uỷ ban thường vụ quốc hội Điều
45. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật 1- Tuỳ theo tính chất và nội
dung của dự án luật, Quốc hội có thể xem xét dự án luật tại một hoặc nhiều kỳ
họp của Quốc hội. Trong trường hợp dự án luật được xem xét tại nhiều kỳ họp của
Quốc hội, thì trong lần xem xét đầu, Quốc hội thảo luận và cho ý kiến về đối tượng,
phạm vi điều chỉnh, nội dung cơ bản và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của
dự án luật. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật có trách nhiệm
tiếp thu chỉnh lý dự án. 2- Quốc hội xem xét , thông qua
dự án luật theo trình tự sau đây: a) Đại diện cơ quan, tổ chức,
đại biểu Quốc hội trình dự án thuyết trình về dự án; b) Đại diện cơ quan thẩm tra
trình báo cáo thẩm tra; c) Quốc hội thảo luận dự án
luật tại phiên họp toàn thể. Việc thảo luận có thể tiến hành theo từng vấn đề,
từng chương hoặc toàn bộ dự án. Trước khi thảo luận ở phiên họp toàn thể, dự án
luật được trao đổi ở Đoàn, ở Tổ đại biểu Quốc hội. Trong quá trình thảo luận, cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án được trình bày bổ sung về những
vấn đề liên quan đến dự án; d) Đoàn thư ký kỳ họp phối hợp
với cơ quan thẩm tra và cơ quan soạn thảo tiếp thụ ý kiến của đại biểu Quốc
hội, dự kiến chỉnh lý dự án và báo cáo với Uỷ ban thường vụ Quốc hội trước khi
trình Quốc hội quyết định. Đối với những dự án luật có
nhiều vấn đề phức tạp, còn có nhiều ý kiến khác nhau, thì Quốc hội có thể thành
lập tổ công tác gồm đại diện cơ quan thẩm tra, cơ quan, tổ chức soạn thảo, một
số đại biểu Quốc hội và một số chuyên gia để chỉnh lý dự án; đ) Quốc hội thông qua dự án
luật bằng cách biểu quyết từng điều, từng chương, nghe đọc toàn văn, sau đó
biểu quyết toàn bộ hoặc nghe đọc toàn văn rồi biểu quyết toàn bộ dự án một lần. Dự án luật được thông qua khi
quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. 3- Chủ tịch Quốc hội ký chứng
thực luật. 4- Trong trường hợp dự án luật
chưa được thông qua, Quốc hội cho ý kiến về những vấn đề cần được tiếp tục
chỉnh lý và giao cho cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án phối hợp
với cơ quan thẩm tra chỉnh lý trong thời hạn do Quốc hội quyết định. Điều
46. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của
Quốc hội 1- Tuỳ theo tính chất và nội
dung của dự thảo nghị quyết, Quốc hội có thể xem xét dự thảo tại một hoặc nhiều
kỳ họp. 2- Quốc hội xem xét, thông qua
dự thảo nghị quyết theo trình tự sau đây: a) Đại diện cơ quan, tổ chức được
phân công chuẩn bị dự thảo nghị quyết thuyết trình và đọc toàn văn dự thảo; b) Đại diện cơ quan thẩm tra
trình báo cáo thẩm tra; c) Quốc hội thảo luận; d) Quốc hội thông qua dự thảo
nghị quyết bằng cách biểu quyết từng vấn đề và sau đó biểu quyết toàn bộ dự
thảo hoặc biểu quyết toàn bộ dự thảo một lần. Dự thảo nghị quyết của Quốc hội
được thông qua khi quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, trừ
trường hợp quy định tại Điều 88 của Hiến pháp năm 1992. 3- Chủ tịch Quốc hội ký chứng
thực nghị quyết của Quốc hội. Điều
47. Trình tự xem xét, thông qua dự án pháp lệnh 1- Tuỳ theo tính chất, nội dung
của dự án pháp lệnh, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét dự án tại một
hoặc nhiều phiên họp. 2- Uỷ ban thường vụ Quốc hội
xem xét, thông qua dự án pháp lệnh theo trình tự sau đây: a) Đại diện cơ quan, tổ chức,
đại biểu Quốc hội trình dự án thuyết trình và đọc toàn văn dự án; b) Đại diện cơ quan thẩm tra
trình báo cáo thẩm tra; c) Đại diện cơ quan, tổ chức,
cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến; d) Các thành viên của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội thảo luận; đ) Chủ tọa phiên họp kết luận; e) Uỷ ban thường vụ Quốc hội
biểu quyết. Dự án pháp lệnh được thông qua
khi quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán
thành. 3- Chủ tịch Quốc hội ký pháp
lệnh. 4- Trong trường hợp dự án pháp
lệnh chưa được thông qua thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến về những vấn
đề cần được tiếp tục chỉnh lý và giao cho cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội
trình dự án phối hợp với cơ quan thẩm tra chỉnh lý trong thời hạn do Uỷ ban thường
vụ Quốc hội quyết định. Điều
48. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Uỷ
ban thường vụ Quốc hội 1- Tuỳ theo tính chất và nội
dung của dự thảo nghị quyết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét dự thảo
tại một hoặc nhiều phiên họp. 2- Uỷ ban thường vụ Quốc hội
xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết theo trình tự sau đây: a) Đại diện cơ quan, tổ chức được
phân công chuẩn bị dự thảo nghị quyết thuyết trình và đọc toàn văn dự thảo; b) Đại diện cơ quan thẩm tra
trình báo cáo thẩm tra; c) Đại diện cơ quan, tổ chức,
cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến; d) Các thành viên của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội thảo luận; đ) Chủ tọa phiên họp kết luận; e) Uỷ ban thường vụ Quốc hội
biểu quyết. Dự thảo nghị quyết được thông
qua khi quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán
thành. 3- Chủ tịch Quốc hội ký nghị
quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Điều
49. Việc xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội Đối với pháp lệnh, nghị quyết
đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua mà Chủ tịch nước đề nghị Uỷ ban thường
vụ Quốc hội xem xét lại theo quy định tại khoản 7 Điều 103 của Hiến pháp năm
1992, thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại những vấn đề mà Chủ tịch nước
có ý kiến. Nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu
quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình
Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất. MỤC 9 CÔNG BỐ VĂN BẢN QUY
PHẠM PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI, Điều
50. Công bố luật, nghị quyết của Quốc hội Chủ tịch nước ban hành lệnh để
công bố luật, nghị quyết của Quốc hội mà việc công bố nghị quyết đó thuộc thẩm
quyền của Chủ tịch nước trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày
luật, nghị quyết được thông qua. Điều
51. Công bố pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội 1- Chủ tịch nước ban hành lệnh
để công bố pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội mà việc công bố
nghị quyết đó thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước trong thời hạn chậm nhất là mười
lăm ngày, kể từ ngày pháp lệnh, nghị quyết được thông qua. 2- Đối với pháp lệnh, nghị
quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã được thông qua mà Chủ tịch nước đề nghị
xem xét lại hoặc trình Quốc hội quyết định, thì thời hạn công bố chậm nhất là mười
ngày, kể từ ngày Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua, sau khi đã xem xét lại
hoặc kể từ ngày Quốc hội quyết định. MỤC 10 GIẢI THÍCH LUẬT, PHÁP
LỆNH Điều
52. Thẩm quyền giải thích luật, pháp lệnh Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải
thích luật, pháp lệnh. Cơ quan, tổ chức theo quy định
tại Điều 87 của Hiến pháp năm 1992, đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Uỷ ban
thường vụ Quốc hội giải thích luật, pháp lệnh. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem
xét, quyết định việc giải thích. Điều
53. Soạn thảo, thông qua dự thảo nghị quyết giải thích
luật, pháp lệnh 1- Tuỳ theo tính chất, nội dung
của vấn đề cần được giải thích, Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao Chính phủ, Toà
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, các Uỷ
ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh trình
Uỷ ban thường vụ Quốc hội. 2- Uỷ ban thường vụ Quốc hội
xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh theo trình tự
sau đây: a) Đại diện cơ quan, tổ chức hữu
quan, đại biểu Quốc hội đã có đề nghị giải thích được mời tham dự phiên họp
trình bày ý kiến; b) Đại diện cơ quan được phân
công chuẩn bị dự thảo nghị quyết giải thích thuyết trình và đọc toàn văn dự
thảo; c) Đại diện cơ quan thẩm tra
trình báo cáo thẩm tra về sự phù hợp của dự thảo nghị quyết giải thích với tinh
thần và nội dung của văn bản được giải thích; d) Đại diện cơ quan, tổ chức,
cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến; đ) Các thành viên của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội thảo luận; e) Chủ tọa phiên họp kết luận; g) Uỷ ban thường vụ Quốc hội
biểu quyết. Dự thảo nghị quyết giải thích
luật, pháp lệnh được thông qua khi quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội biểu quyết tán thành. 3- Chủ tịch Quốc hội ký nghị
quyết giải thích luật, pháp lệnh. 4- Nghị quyết về việc giải
thích luật, pháp lệnh được đăng Công báo và đưa tin trên các phương tiện thông
tin đại chúng. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP
LUẬT CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC Điều
54. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
được ban hành để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến
pháp, luật quy định. Điều
55. Soạn thảo dự thảo lệnh, quyết định 1- Chủ tịch nước tự mình hoặc
theo đề nghị của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, quyết định cơ quan soạn thảo dự thảo lệnh, quyết định. 2- Cơ quan được giao soạn thảo
tổ chức nghiên cứu, soạn thảo dự thảo lệnh, quyết định. 3- Tuỳ theo nội dung của dự
thảo lệnh, quyết định, Chủ tịch nước quyết định việc lấy ý kiến của cơ quan, tổ
chức, cá nhân hữu quan. 4- Cơ quan được giao soạn thảo
chỉnh lý dự thảo lệnh, quyết định và báo cáo Chủ tịch nước về dự thảo, ý kiến
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan. 5- Chủ tịch nước xem xét, ký
lệnh, quyết định. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP
LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ, MỤC 1 NỘI DUNG VĂN BẢN QUY
PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ, BỘ TRƯỞNG, THỦ TRƯỞNG CƠ
QUAN NGANG BỘ, THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN THUỘC CHÍNH PHỦ Điều
56. Nghị quyết, nghị định của Chính phủ 1- Nghị quyết của Chính phủ được
ban hành để quyết định chính sách cụ thể về xây dựng và kiện toàn bộ máy hành
chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở, hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân
thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; bảo đảm thực hiện Hiến
pháp và pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
nhân dân và công dân; thực hiện chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo; quyết
định chủ trương, chính sách cụ thể về ngân sách nhà nước, tiền tệ; phát triển
văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường; củng cố và
tăng cường quốc phòng, an ninh; thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước,
các biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; các biện pháp chống
quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; phê duyệt các điều ước quốc tế
thuộc thẩm quyền của Chính phủ. 2- Nghị định của Chính phủ bao
gồm: a) Nghị định quy định chi tiết
thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quy định nhiệm vụ, quyền hạn,
tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ
quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ thành lập; các biện pháp cụ thể để
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; b) Nghị định quy định những vấn
đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh
để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Việc ban
hành nghị định này phải được sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Điều
57. Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ 1- Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ được ban hành để quyết định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, điều
hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến
cơ sở; quy định chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm
quyền của Thủ tướng Chính phủ. 2- Chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ quy định các biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính
phủ; đôn đốc và kiểm tra hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện các chủ trương, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, các quyết định của Chính phủ. Điều
58. Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ 1- Quyết định của Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quy định về tổ
chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc; quy định các tiêu chuẩn,
quy trình, quy phạm và các định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do
mình phụ trách; quy định các biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành,
lĩnh vực do mình phụ trách và những vấn đề được Chính phủ giao. 2- Chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quy định các biện
pháp để chỉ đạo, đôn đốc, phối hợp và kiểm tra hoạt động của các cơ quan, đơn
vị thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách trong việc thực hiện văn bản quy
phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và của mình. 3- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ được ban hành để hướng
dẫn thực hiện những quy định được luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước,
nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ giao thuộc phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách. MỤC 2 SOẠN THẢO, BAN HÀNH VĂN
BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ, BỘ TRƯỞNG, Điều
59. Chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định Để bảo đảm thực hiện luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh,
quyết định của Chủ tịch nước và căn cứ vào yêu cầu quản lý nhà nước, Chính phủ
quyết định chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định ba tháng, sáu tháng và
hàng năm của Chính phủ theo sáng kiến của mình và đề nghị của các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan. Trong trường hợp cần thiết,
Chính phủ điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định. Điều
60. Thành lập Ban soạn thảo nghị quyết, nghị định 1- Chính phủ quyết định cơ quan
chủ trì soạn thảo nghị quyết, nghị định. Cơ quan chủ trì soạn thảo sau
khi thoả thuận với các Bộ, ngành hữu quan thành lập Ban soạn thảo. 2- Đối với nghị định quy định
tại điểm b khoản 2 Điều 56 của Luật này, thì Chính phủ quyết định thành lập Ban
soạn thảo. Điều
61. Soạn thảo dự thảo nghị quyết, nghị định Trong việc soạn thảo dự thảo
nghị quyết, nghị định, Ban soạn thảo phải tiến hành các công việc sau đây: 1- Tổng kết tình hình thi hành
pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan; 2- Tổ chức nghiên cứu, xây dựng
dự thảo; 3- Lấy ý kiến các cơ quan, tổ
chức, cá nhân hữu quan; tập hợp ý kiến và chỉnh lý dự thảo; 4- Chuẩn bị tờ trình cùng với
dự thảo và các tài liệu cần thiết khác để trình Chính phủ. Điều
62. Tham gia ý kiến xây dựng dự thảo nghị quyết, nghị
định Tuỳ theo tính chất và nội dung
của dự thảo nghị quyết, nghị định, cơ quan soạn thảo gửi dự thảo tới Uỷ ban
trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Toà án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan, tổ chức hữu quan,
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi
chung là cấp tỉnh) để tham gia ý kiến. Điều
63. Thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm
định các dự thảo nghị quyết, nghị định trước khi trình Chính phủ để bảo đảm
tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của văn bản trong hệ thống
pháp luật. Chậm nhất là hai mươi ngày, trước
ngày Chính phủ họp, cơ quan soạn thảo gửi dự thảo nghị quyết, nghị định và các
tài liệu liên quan đến Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp có trách nhiệm chuẩn bị ý kiến
thẩm định bằng văn bản và gửi văn bản thẩm định đến Chính phủ chậm nhất là năm
ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp của Chính phủ. Điều
64. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết, nghị
định 1- Tuỳ theo tính chất và nội
dung của dự thảo nghị quyết, nghị định Chính phủ có thể xem xét dự thảo nghị
quyết, nghị định tại một hoặc nhiều phiên họp của Chính phủ; 2- Tại phiên họp của Chính phủ,
đại diện cơ quan soạn thảo, thuyết trình về dự thảo; Bộ trưởng Bộ Tư pháp trình
bày ý kiến thẩm định dự thảo; đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên
họp phát biểu ý kiến; 3- Các thành viên của Chính phủ
thảo luận; 4- Dự thảo nghị quyết, nghị
định được Chính phủ thông qua khi quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu
quyết tán thành; 5- Thủ tướng Chính phủ ký nghị
quyết, nghị định; 6- Trong trường hợp dự thảo
nghị quyết, nghị định chưa được thông qua, Chính phủ cho ý kiến về những vấn đề
cần phải chỉnh lý và định thời hạn trình lại dự thảo. Điều
65. Soạn thảo, ban hành quyết định, chỉ thị của Thủ tướng
Chính phủ 1- Dự thảo quyết định, chỉ thị
do Thủ tướng giao và chỉ đạo cơ quan soạn thảo. 2- Cơ quan được giao soạn thảo
có trách nhiệm xây dựng dự thảo. 3- Tuỳ theo tính chất và nội
dung của dự thảo quyết định, chỉ thị, cơ quan soạn thảo gửi lấy ý kiến các
thành viên Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh và cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan. 4- Bộ Tư pháp có trách nhiệm
tham gia ý kiến bằng văn bản về dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ. 5- Cơ quan soạn thảo chỉnh lý
dự thảo và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân
hữu quan. 6- Thủ tướng Chính phủ xem xét,
ký quyết định, chỉ thị. Điều
66. Soạn thảo, ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư của
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ 1- Dự thảo quyết định, chỉ thị,
thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ giao và chỉ đạo đơn vị trực thuộc soạn thảo. 2- Đơn vị được giao soạn thảo
có trách nhiệm nghiên cứu và xây dựng dự thảo. 3- Tuỳ theo tính chất và nội
dung của dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư, dự thảo được gửi để lấy ý kiến
của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan. 4- Đơn vị được giao soạn thảo
chỉnh lý dự thảo, trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ
quan thuộc Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư và ý kiến của cơ
quan, tổ chức, cá nhân hữu quan. 5- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ xem xét, ký quyết định, chỉ
thị, thông tư. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP
LUẬT Điều
67. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao Nghị quyết của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn các Tòa án áp dụng
thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử. Điều
68. Soạn thảo, ban hành nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán
Toà án nhân dân tối cao 1- Dự thảo nghị quyết của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ
chức và chỉ đạo việc soạn thảo. 2-Tuỳ theo tính chất và nội
dung của dự thảo nghị quyết, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định gửi
lấy ý kiến Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân địa phương,
Tòa án quân sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan. 3- Dự thảo nghị quyết được thảo
luận tại phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có sự tham
dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp. 4- Dự thảo nghị quyết được
thông qua khi quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao biểu quyết tán thành. Trong trường hợp Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp không nhất trí với nghị
quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thì có quyền báo cáo Uỷ
ban thường vụ Quốc hội để Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại
phiên họp gần nhất. 5. Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao ký nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Điều
69. Quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao Quyết định, chỉ thị, thông tư
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định các biện pháp để bảo
đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; quy
định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao. Điều
70. Soạn thảo, ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao 1- Dự thảo quyết định, chỉ thị,
thông tư do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc
soạn thảo. 2- Dự thảo quyết định, chỉ thị,
thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được Uỷ ban kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến. Tuỳ theo tính chất và
nội dung của dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư, Viện trưởng viện kiểm sát
nhân dân tối cao quyết định gửi dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư để lấy ý
kiến của Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân địa phương,
Viện kiểm sát quân sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan. 3- Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao ký quyết định, chỉ thị, thông tư. CHƯƠNG VII Điều
71. Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Thông tư liên tịch giữa các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được ban hành để hướng dẫn thi hành
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ,
quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của các cơ quan đó. Điều
72. Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa Toà án nhân
dân tối cao với Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Toà án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ Thông tư liên tịch giữa Toà án
nhân dân tối cao với Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với Toà án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất
pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ,
quyền hạn của các cơ quan đó. Điều
73. Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa cơ quan nhà
nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội Nghị quyết, thông tư liên tịch
giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính
trị - xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy
định về việc tổ chức chính trị - xã hội đó tham gia quản lý nhà nước. Điều
74. Soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên
tịch 1- Dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật liên tịch do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội hữu quan
thoả thuận, phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo. 2- Cơ quan, tổ chức được phân
công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức xây dựng dự thảo văn bản và lấy ý
kiến cơ quan, tổ chức hữu quan. Đối với dự thảo thông tư liên
tịch giữa Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với Toà án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được lấy ý kiến các thành viên Hội
đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thành viên Uỷ ban Kiểm sát Viện kiểm
sát nhân dân tối cao. Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn
thảo có trách nhiệm tập hợp ý kiến và chỉnh lý dự thảo. 3- Thủ trưởng cơ quan, người
đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội cùng ký nghị quyết, thông tư liên tịch. HIỆU LỰC CỦA VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT Điều
75. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật 1- Luật, nghị quyết của Quốc
hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày
Chủ tịch nước ký lệnh công bố, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu
lực khác. 2- Văn bản quy phạm pháp luật
của Chủ tịch nước có hiệu lực kể từ ngày đăng Công báo, trừ trường hợp văn bản
đó quy định ngày có hiệu lực khác. 3- Văn bản quy phạm pháp luật
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ
trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các văn bản quy phạm pháp luật
liên tịch có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày ký văn bản hoặc có hiệu lực
muộn hơn nếu được quy định tại văn bản đó. Đối với văn bản quy phạm pháp luật
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định các biện pháp thi hành trong tình
trạng khẩn cấp, thì văn bản có thể quy định ngày có hiệu lực sớm hơn. Điều
76. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật 1- Chỉ trong những trường hợp
thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước. 2- Không được quy định hiệu lực
trở về trước đối với các trường hợp sau đây: a) Quy định trách nhiệm pháp lý
mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy
định trách nhiệm pháp lý; b) Quy định trách nhiệm pháp lý
nặng hơn. Điều
77. Những trường hợp ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp
luật 1- Văn bản quy phạm pháp luật
bị đình chỉ thi hành, thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền về việc: a) Không bị huỷ bỏ thì văn bản
tiếp tục có hiệu lực; b) Bị huỷ bỏ thì văn bản hết
hiệu lực. 2- Thời điểm ngưng hiệu lực,
tiếp tục có hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu lực của văn bản phải quy định rõ
tại quyết định đình chỉ thi hành, quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. 3- Quyết định đình chỉ, quyết
định xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải được
đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Điều
78. Những trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu
lực Văn bản quy phạm pháp luật hết
hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây: 1- Hết thời hạn có hiệu lực đã
được quy định trong văn bản; 2- Được thay thế bằng văn bản
mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó; 3- Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng
một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; 4- Văn bản quy định chi tiết, hướng
dẫn thi hành của văn bản hết hiệu lực cũng đồng thời hết hiệu lực cùng với văn
bản đó, trừ trường hợp được giữ lại toàn bộ hoặc một phần vì còn phù hợp với
các quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới. Điều
79. Hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng 1- Văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan nhà nước trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước và được
áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam, trừ trường hợp văn bản
có quy định khác. 2- Văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân có hiệu lực trong phạm vi địa phương. 3- Văn bản quy phạm pháp luật
cũng có hiệu lực đối với cơ quan, tổ chức, người nước ngoài ở Việt Nam, trừ trường
hợp pháp luật của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác. Điều
80. Áp dụng
văn bản quy phạm pháp luật 1- Văn bản quy phạm pháp luật được
áp dụng từ thời điểm có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối
với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có quy
định hiệu lực trở về trước, thì áp dụng theo quy định đó. 2- Trong trường hợp các văn bản
quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn
bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. 3- Trong trường hợp các văn bản
quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề do cùng một cơ quan ban hành mà có quy
định khác nhau, thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau. 4- Trong trường hợp văn bản quy
phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm
pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực, thì áp
dụng văn bản mới. GIÁM SÁT, KIỂM TRA,
KIỂM SÁT VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN Điều
81. Quốc hội giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật 1- Quốc hội thực hiện quyền
giám sát tối cao đối với văn bản quy phạm pháp luật của các các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định tại Chương II của Luật này. 2- Theo đề nghị của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chính
phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên, đại biểu Quốc hội, Quốc hội xem xét, quyết
định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ luật, nghị quyết của Quốc hội trái Hiến pháp;
xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội. Điều
82. Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát, xử lý văn bản
trái pháp luật 1- Uỷ ban thường vụ Quốc hội
thực hiện quyền giám sát đối với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà
nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình. 2- Theo đề nghị của Chủ tịch nước,
Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên, đại biểu Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định đình chỉ
việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc
huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó; xem xét, quyết định huỷ bỏ một phần
hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái pháp lệnh, nghị quyết
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ
nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Điều
83. Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật 1- Chính phủ kiểm tra văn bản
quy phạm pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. 2- Thủ tướng Chính phủ xem xét,
quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy
phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trái Hiến pháp, luật và các văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; xem xét, quyết định đình chỉ
thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái
Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp
trên, đồng thời đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ. Điều
84. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ
quan thuộc Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật. 1- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ kiểm tra văn bản quy phạm pháp
luật của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do
mình phụ trách. 2- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quản lý ngành, lĩnh vực có
quyền kiến nghị với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ đã ban hành văn bản trái với văn bản về ngành, lĩnh vực do mình
phụ trách bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản đó;
nếu kiến nghị đó không được chấp nhận thì trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;
kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh trái với văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hoặc của Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về ngành, lĩnh vực do Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phụ trách ; đình chỉ việc thi hành và đề nghị
Thủ tướng chính phủ bãi bỏ quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
trái với văn bản quy phạm pháp luật về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách; nếu
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh không nhất trí với quyết định đình chỉ thi hành, thì
vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ. Điều
85. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp
luật đối với văn bản quy phạm pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với
văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng
cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân nhằm bảo đảm các
văn bản đó không trái pháp luật. Thủ trưởng cơ quan nhà nước
nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm trả lời kháng
nghị trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều
86. Kinh phí xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Kinh phí xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật do ngân sách nhà nước cấp. Luật này có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1997. Nghị quyết của Hội đồng Nhà nước
về Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh ngày 6 tháng 8 năm 1988 hết hiệu lực kể
từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Luật này đã được Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 12
tháng 11 năm 1996. |
||||
|
||||
